|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HS-ST
Ngày 28/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Việt Cường
Bà Lường Thị Hoàn
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc, Thư ký TAND thị xã Nghĩa Lộ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Cầm Văn Â. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02/4/1986 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Bản Tào, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cầm Văn Q (đã chết) và bà Hoàng Thị S, sinh năm 1949; Vợ là Lường Thị T và có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: QĐ số 06/QĐ-TA ngày 23/02/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng (ngày 26/8/2023 chấp hành xong); Nhân thân: QĐ số 33/QĐ-TA ngày 01/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/8/2024, tạm giam ngày 10/8/2024, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lường Thị T, sinh năm 1981. Địa chỉ: Bản T, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Có mặt
Người làm chứng: Anh Lò Văn N, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ T, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
Anh Lường Văn L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
Anh Lò Văn N1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Tổ T, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 20 phút ngày 07/8/2024 công an thị xã N phát hiện tại chân cầu thang nhà ở của Cầm Văn  thuộc Bản Tào, xã H có  và Lò Văn N đang có hành vi trao đổi mua bán ma túy nên tiến hành kiểm tra. Cả hai đều khai nhận  vừa bán cho N 01 gói ma túy loại Heroin với giá 100.000đồng. Thu giữ tại túi quần của  số tiền 2.500.000đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng), thu giữ tại túi quần của N 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột nén màu trắng. N thừa nhận đó là gói ma túy vừa mua của  để sử dụng.
Cùng ngày Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của  phát hiện tại mặt bàn uống nước có 06 mảnh giấy gói, 01 dao lam có chữ Croma.
Quá trình điều tra Cầm Văn  khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy nên thường xuyên mua ma túy về sử dụng. Khoảng 10 giờ ngày 07/8/2024 khi  đang ở nhà thì Lường Văn L đến hỏi mua 01 gói ma túy và đưa 100.000đồng. Do khi đó không có ma túy nên  cầm tiền và đi tìm mua ma túy. Âu đi nhờ xe mô tô của người qua đường lên khu vực xã P, huyện T khi đi qua UBND xã khoảng 100m thì gặp 1 người phụ nữ không quen biết,  hỏi và mua được của người đó 01 gói ma túy loại Heroin với giá 400.000đồng, số tiền mua là tiền L đưa và tiền của bị cáo. Trên đường về  lấy một ít ra sử dụng, số còn lại  đem về nhà dùng dao lam chia thành 02 phần gói vào 02 gói giấy. Đến khoảng 11 giờ L đến nhà  để lấy ma túy,  đưa cho L 01 gói ma túy. Sau khi đưa ma túy cho L khoảng 15 phút thì Lò Văn N1 chở Lò Văn N đến, N1 đứng ngoài cổng còn N đi vào sân. N và  gặp nhau tại chân cầu thang, N hỏi mua 01 gói ma túy và đưa 100.000đồng cho Â. Âu nhận tiền sau đó lấy 01 gói ma túy từ trong túi quần đang mặc đưa cho N. Khi cả hai vừa giao dịch mua bán xong thì công an bắt quả tang.
Tiến hành điều tra đối với Lò Văn N và Lường Văn L đều khai phù hợp với lời khai của Cầm Văn  về thời gian, địa điểm, số lần mua bán ma túy. Cụ thể: N và L là những người nghiện chất ma túy, quen biết Âu khi đi cai nghiện tại tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái. L và N đã mua một số lần nhưng không nhớ hết mà chỉ nhớ những lần gần đây nhất. Do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng nên sáng ngày 07/8/2024 L đến nhà hỏi mua ma túy của  nhưng do chưa có nên đã đưa tiền trước để  đi mua, đến 11 giờ L quay lại nhà  lấy 01 gói ma túy sau đó đem về nhà sử dụng hết. Đối với N trên đường đi tìm mua ma túy thì gặp Lò Văn N1 đang đi trên đường nên nhờ N1 đưa đến nhà Â, việc mua bán ma túy giữa N và  không nói cho N1 biết.
Tại bản kết luận giám định số 468/KL-KTHS và số 484/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y đã kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang  và N có khối lượng là 0,03 gam, là ma túy loại Heroine; Toàn bộ số tiền (2.500.000đồng) thu giữ của  khi bắt quả tang là tiền thật.
2
Cáo trạng số: 51/CT-VKS-NL ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố Cầm Văn  về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích mục đích, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, giữ nguyên quan điểm của cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì thư, 06 mảnh giấy gói, 01 dao lam Croma; tịch thu của bị cáo số tiền 200.000đồng; trả lại chị T 2.400.000đồng. Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí.
Tại phiên tòa bị cáo khai đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy đúng như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật và các vấn đề khác do Kiểm sát viên đề nghị. Lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị T) khai sáng ngày 07/8/2024 chị đưa cho bị cáo số tiền 2.600.000đồng để mua vật liệu xây dựng, vì vậy chị đề nghị được xin lại số tiền công an đã thu giữ vì đó không phải là tiền riêng bị cáo. Việc mua bán ma túy của bị cáo chị và gia đình không ai biết và tham gia gì.
Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã được công bố lời khai trong hồ sơ, bị cáo công nhận lời khai của những người làm chứng là đúng sự thật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
3
[2] Về chứng cứ buộc tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như những lời khai của bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra. Đã có đủ căn cứ chứng minh được, sáng ngày 07/8/2024 L đến nhà  hỏi mua ma túy nhưng do chưa có nên  đã cầm 100.000đồng L đưa, sau đó đi lên khu vực UBND xã P tìm và mua được 01 gói ma túy của người phụ nữ không quen biết. Số ma túy mua được  chia nhỏ để sử dụng cho bản thân và bán lại thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 11 giờ 20 phút ngày 07/8/2024 tại nhà ở của mình  đã bán 02 lần mỗi lần 01 gói ma túy cho Lường Văn L và Lò Văn N thu được số tiền bất chính là 200.000đồng, khi vừa giao dịch mua bán 0,03 gam Heroin với N xong thì bị bắt quả tang.
Hành vi mua bán chất ma túy của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách kiểm soát, chế độ quản lý độc quyền, sản xuất các chất ma túy của Nhà nước, góp phần làm gia tăng người nghiện chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là chất gây nghiện có tác động rất xấu đến sức khỏe người sử dụng và là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác nên nhà nước ta đã tuyên truyền giáo dục và quy định chế tài phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết được việc sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm và có hình phạt rất cao nhưng vì nhu cầu của bản thân và mục đích thu lợi bất chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy. Với hành vi 02 lần bán ma túy cho L và N nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo” và “người phạm tội tự thứ” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự do tự khai ra hành vi bán ma túy cho L khi chưa bị ai phát hiện và khai báo cụ thể rõ ràng về hành vi vi phạm của mình trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa.
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy lâu năm, đã 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không từ bỏ được, trong đó có 01 tiền sự chưa được xóa, do đó xác định là người có nhân thân chưa tốt.
[4] Từ những quy định của Bộ luật hình sự và nhận xét đánh giá về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù, với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ý thức tuân thủ pháp luật đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện có hiệu quả và đấu tranh phòng ngừa chung đặc biệt là tội phạm về ma túy.
Theo xác minh tại địa phương và lời khai của bị cáo thì bị cáo là người không có tài sản riêng, nghiện chất ma túy lâu năm không có công việc và thu nhập ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
4
Trong vụ án này L và N khai nhận ngoài lần mua ma túy của Âu ngày 07/8/2024 thì còn mua nhiều lần khác nữa nhưng không nhớ rõ ngày tháng cụ thể, không có người làm chứng, bị cáo  không thừa nhận, do đó không có đủ căn cứ làm rõ trong vụ án.
[5] Về vật chứng và tài sản tạm giữ:
- - 0,03 gam ma túy loại Heroine, cơ quan giám định đã lấy toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại.
- - 02 vỏ phong bì và 06 mảnh giấy gói, 01 dao lam có chữ Croma là những vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 2.500.000đồng thu giữ của bị cáo trong đó chứng minh được 100.000đồng là tiền có từ hành vi bán ma túy cho N nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, số còn lại 2.400.000đồng là tiền do chị Lường Thị T (vợ bị cáo) đưa cho bị cáo đi mua vật liệu xây dựng (đưa 2.600.000đồng bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết 200.000đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị T.
- - Truy thu của bị cáo số tiền 100.000đồng thu được từ hành vi bán ma túy cho L.
[6] Về nguồn gốc ma túy bị cáo khai mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực UBND xã P, huyện T nhưng không biết rõ họ tên và địa chỉ, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có đủ manh mối, cơ sở để điều tra xử lý.
Đối với Lường Văn L và Lò Văn N là người mua ma túy của bị cáo để sử dụng. L đã sử dụng hết số ma túy mua được, số ma túy Nhung mua có khối lượng 0,03 gam Heroine chưa đủ về lượng để cấu thành tội phạm (N chưa bị xử phạt hành chính và kết án về các tội ma túy theo Điều 248, 249, 251, 252 của BLHS), vì vậy Công an thị xã N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đối với L và Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với N là phù hợp với quy định.
Lò Văn N1 là người trở N đến nhà Â để mua ma túy nhưng N không nói gì về việc mua ma túy cho N1 biết, do đó N1 không phạm tội.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo về hình phạt là cao, những đề nghị khác phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[8] Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Cầm Văn  phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Cầm Văn  07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/8/2024.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu của bị cáo số tiền 100.000đồng (một trăm ngàn đồng) để sung nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Truy thu của bị cáo số tiền 100.000đồng (một trăm ngàn đồng) để sung nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 06 mảnh giấy gói, 01 dao lam Croma.
- - Trả lại cho chị Lường Thị T số tiền 2.400.000đồng (hai triệu bốn trăm ngàn đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ ngày 06/11/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ)
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Cầm Văn  phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Hồng Hạnh |
6
7
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cầm Văn Âu phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
