|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2024/HS-ST
Ngày 27 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Tý
2. Bà Đào Thị Thường
- Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Say - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giỏi - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đồng Văn T, sinh ngày 21/9/1979. Tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Văn N và bà Lò Thị H; có vợ là Đinh Thị N1 và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- + Bản án số 11/2017/HSST ngày 27/4/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Bản án số 32/2017/HSST ngày 08/11/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt của Bản án 11/2017/HSST ngày 27/4/2021 là 01 năm 06 tháng tù. Ngày 23/01/2019 chấp hành xong hình phạt tù.
- + Bản án số 41/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ngày 06/5/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
- + Ngày 21/01/2020 bị Công an phường T, thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, phạt tiền 1.000.000 đồng. Ngày 31/01/2020 chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/8/2024, tạm giam ngày 22/8/2024; Hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N “Có mặt”.
2. Hà Văn T1, sinh ngày 13/3/1983. Tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ T, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Ê và bà Cầm Thị C ( đều đã chết); có vợ là Lò Thị T2 và có 03 con;
Tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án số: 25/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/8/2024, tạm giam từ ngày 22/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N “Có mặt”.
3. Nguyễn Tất T3, sinh ngày 22/5/1992. Tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ B, phường P, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc N2 và bà Đặng Thị C1; chưa có vợ con;
Tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án số: 140/2022/HS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 13/5/2023 chấp hành xong án phạt tù.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/8/2024, tạm giam từ ngày 22/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N “Có mặt”.
4. Nguyễn Văn C2, sinh ngày 06/8/1991. Tại huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Thôn X, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C3 và bà Huỳnh Thị L (đều đã chết); có vợ là Trần Thị T4 và có 05 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 13/3/2023 của Công an xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình về hành vi Đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng, chấp hành xong ngày 20/3/2023.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/8/2024 đến ngày 22/8/2024; Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.
5. Lò Văn Đ, sinh ngày 26/5/1991. Tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Tổ B, phường P, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Q và bà Lường Thị T5; có vợ là Đồng Thị X và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/8/2024 đến ngày 22/8/2024. Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.
6. Giàng Văn C4, sinh ngày 14/5/1990. Tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Tổ B, phường P, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Văn Q1 và bà Đinh Thị D; có vợ là Nguyễn Thị T6 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/8/2024 đến ngày 22/8/2024. Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.
7. Phạm Văn N3, sinh ngày 12/5/1986. Tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện nay: Tổ C, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T7 và bà Vũ Thị M; có vợ là Hoàng Thị L1 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/8/2024 đến ngày 22/8/2024. Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 15 phút ngày 15/8/2024, tại nhà ở C tổ A, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái, tổ công tác thuộc đội Điều tra tổng hợp Công an thị xã N phát hiện và bắt quả tang Đồng Văn T, Hà Văn T1, Nguyễn Tất T3, Nguyễn Văn C2, Phạm Văn N3, Lò Văn Đ và Giàng Văn C4 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, được thua bằng tiền.
Vật chứng và tài sản tạm giữ gồm có: 01 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 04 quân vị hình tròn được cắt từ bài tú lơ khơ, 01 chiếc kéo; số tiền trên thảm trước mặt Đồng Văn T số tiền 4.100.000 đồng, trước mặt Phạm Văn N3 1.500.000 đồng, trước mặt Giàng Văn C4 1.300.000 đồng, trước mặt Nguyễn Tất T3 1.100.000 đồng, trước mặt Nguyễn Văn C2 800.000 đồng, tại vị trí giữa thảm số tiền 1.000.000 đồng.
Thu giữ trong người Phạm Văn N3 700.000 đồng, Nguyễn Văn C2 4.610.000 đồng, Hà Văn T1 1.000.000 đồng.
Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 9.800.000 đồng, tạm giữ trong người C2, Năm và T1 là 6.310.000 đồng.
Diễn biến của vụ án thể hiện: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/8/2024, Đồng Văn T ở nhà thì lần lượt có Nguyễn Văn C2, Nguyễn Tất T3, Phạm Văn N3, Giàng Văn C4 và Lò Văn Đ đến nhà chơi. Trong lúc nói chuyện thì cả nhóm rủ nhau đánh bạc. Thân đã lấy 01 bộ bài tú lơ khơ đưa cho Nguyễn Văn C2, C2 chọn lấy 01 quân bài cắt ra làm thành 04 quân vị, còn T mang ra 01 bộ bát đĩa bằng sứ ra để dùng làm công cụ đánh bạc rồi tất cả ngồi đánh bạc, chơi được một lúc thì có thêm T1 đến và tham gia cùng. Nguyễn Tất T3 và Đồng Văn T là người xóc cái cho mọi người chơi, tiền cược mỗi ván thấp nhất là 50.000 đồng, không giới hạn về số tiền đặt cửa, các bị cáo chơi đến khoảng 22 giờ 15 phút thì bị bắt quả tang.
Các bị cáo khai nhận: Quá trình chơi, Đồng Văn T sử dụng 1.300.000 đồng; Phạm Văn N3 sử dụng 1.200.000 đồng; Lò Văn Đ sử dụng 1.700.000 đồng; Giàng Văn C4 sử dụng 1.200.000 đồng; Nguyễn Tất T3 sử dụng 1.700.000 đồng; Nguyễn Văn C2 sử dụng 1.700.000 đồng; Hà Văn T1 sử dụng 1.000.000 đồng và vay của C2 1.000.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 10.800.000 đồng.
Kết luận giám định số 498/KL-KTHS ngày 22/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y, kết luận: “17 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng; 32 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng; 07 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng; 07 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng; 06 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng; 04 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng gửi giám định đều là tiền thật”.
Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKS-NL ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố các bị cáo:
Đồng Văn T, Hà Văn T1, Nguyễn Tất T3, Nguyễn Văn C2, Lò Văn Đ, Giàng Văn C4 và Phạm Văn N3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Văn T1 và Nguyễn Tất T3 có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên các bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: 07 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, các bị cáo Phạm Văn N3, Lò Văn Đ, Giàng Văn C4 và Nguyễn Văn C2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Đồng Văn T, Hà Văn T1, Nguyễn Tất T3, Nguyễn Văn C2, Lò Văn Đ, Giàng Văn C4 và Phạm Văn N3 phạm tội “Đánh bạc".
- Về hình phạt chính:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đồng Văn T 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn T1 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
- Áp dụng khoản 5 Điều 65 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung của Bản án số 25/2022/HSPT ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái đã xử phạt bị cáo 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm. Hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tất T3 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
- + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn C2 số tiền từ 30 đến 35 triệu đồng;
- + Phạt tiền bị cáo Phạm Văn N3 số tiền từ 25 đến 30 triệu đồng;
- + Phạt tiền bị cáo Lò Văn Đ số tiền từ 25 đến 30 triệu đồng;
- + Phạt tiền bị cáo Giàng Văn C4 số tiền từ 25 đến 30 triệu đồng.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đồng Văn T, Hà Văn T1 và Nguyễn Tất T3.
- Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu số tiền 10.800.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước; tiêu hủy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị, 01 chiếc thảm có nhiều họa tiết, 01 chiếc kéo, 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C2 số tiền 4.610.000 đồng; trả lại cho bị cáo Phạm Văn N3 700.000 đồng.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng, án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Đồng Văn T, Nguyễn Tất T3, Hà Văn T1, Nguyễn Văn C2, Phạm Văn N3, Lò Văn Đ và Giàng Văn C4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.
* Các bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên, thành khẩn khai báo và nói lời sau cùng đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với các bị cáo đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việc điều tra, truy tố bị cáo đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện, Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/8/2024, tại nhà của Đ tổ A, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái, Đồng Văn T, Nguyễn Tất T3, Hà Văn T1, Nguyễn Văn C2, Phạm Văn N3, Lò Văn Đ và Giàng Văn C4 đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, được thua bằng tiền thì bị tổ công tác của Đội điều tra tổng hợp Công an thị xã N bắt quả tang, thu giữ số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.800.000 đồng.
Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Từ đó đã có đủ căn cứ khẳng định các bị cáo Đồng Văn T, Hà Văn T1, Nguyễn Tất T3, Nguyễn Văn C2, Phạm Văn N3, Lò Văn Đ và Giàng Văn C4 phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Hà Văn T1 và Nguyễn Tất T3 đều có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên các bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tất cả 07 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, các bị cáo Phạm Văn N3, Lò Văn Đ, Giàng Văn C4 và Nguyễn Văn C2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Như vậy, xét về cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, tội phạm thấy rằng:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, tất cả các bị cáo đều là người thực hành, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, tổ chức, phân công vai trò trách nhiệm cụ thể.
Bị cáo Đồng Văn T đến nay tuy là người không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu (03 lần bị kết án phạt tù, 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc), là chủ nhà đã để cho các bị cáo tụ tập đánh bạc trái phép; bị cáo Hà Văn T1 đang phải chấp hành hình phạt án treo của một bản án xét xử năm 2022, là người đang có tiền án; Bị cáo Nguyễn Tất T3, là người đang có tiền án nên mức hình phạt đối với các bị cáo T, T1 và T3 sẽ phải cao hơn so với các bị cáo còn lại; Các bị cáo Nguyễn Văn C2, Phạm Văn N3, Lò Văn Đ và Giàng Văn C4 sẽ phải chịu mức hình phạt thấp hơn.
[5] Về nhân thân.
Bị cáo Đồng Văn T năm 2017 đã 02 lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, năm 2021 bị kết án về tội đánh bạc, năm 2020 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; Các Bị cáo Hà Văn T1 và Nguyễn Tất T3 đều có 01 tiền án chưa được xóa án tích, thể hiện là những người có nhân thân xấu.
Bị cáo Nguyễn Văn C2 là người chưa có tiền án, từng có một tiền sự (đã được xóa).
Các bị cáo Phạm Văn N3, Lò Văn Đ và Giàng Văn C4 đều không có tiền án, tiền sự, thể hiện là những người có nhân thân tốt.
[6] Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải xử lý các bị cáo một cách nghiêm minh, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện,
Bị cáo Đồng Văn T, Hà Văn T1 và Nguyễn Tất T3 là những người có nhân thân xấu, bị cáo T1 và bị cáo T3 có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần buộc bị cáo T, T1 và T3 phải chấp hành hình phạt tại Trại giam để cải tạo giáo dục các bị cáo, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Các bị cáo Nguyễn Văn C2, Phạm Văn N3, Lò Văn Đ và Giàng Văn C4 là những người không có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo bản thân. Do vậy đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo C2, N3, Đ và C4 mà đề nghị áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
- Đối với 01 chiếc thảm nhiều hình họa tiết, 01 chiếc bát sứ, 01 chiếc đĩa sứ, 01 chiếc kéo và 04 phong bì đã mở niêm phong là công cụ mà các bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với tổng số tiền thu giữ trong vụ án là 16.110.000 đồng. Trong đó thu trên chiếu bạc là 9.800.000 đồng; thu trong người bị cáo Phạm Văn N3 700.000 đồng, Nguyễn Văn C2 4.610.000 đồng, Hà Văn T1 1.000.000 đồng (Thăng vay của C2 với mục đích sử dụng vào việc đánh bạc).
Xác định số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.800.000 đồng, nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; còn lại không liên quan đến tội phạm nên trả cho bị cáo Phạm Văn N3 700.000 đồng, Nguyễn Văn C2 4.610.000 đồng.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Đồng Văn T, Nguyễn Tất T3, Hà Văn T1, Nguyễn Văn C2, Phạm Văn N3, Lò Văn Đ và Giàng Văn C4 phạm tội “Đánh bạc”.
[2] Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đồng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
- Áp dụng khoản 5 Điều 65 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung của Bản án số 25/2022/HSST ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái đã xử phạt bị cáo 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm. Hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tất T3 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự,
- + Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn C2 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);
- + Xử phạt tiền bị cáo Phạm Văn N3 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);
- + Xử phạt tiền bị cáo Giàng Văn C4 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);
- + Xử phạt tiền bị cáo Lò Văn Đ 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đồng Văn T, Hà Văn T1 và Nguyễn Tất T3.
[3] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự .
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bát sứ, 01 chiếc đĩa sứ, 04 quân vị, 01 chiếc thảm nhiều họa tiết; 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong.
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.800.000 đồng (mười triệu, tám trăm nghìn đồng).
- - Trả lại cho Nguyễn Văn C2 số tiền 4.610.000 đồng (bốn triệu, sáu trăm, mười nghìn đồng);
- - Trả lại cho Phạm Văn N3 số tiền 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng);
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 05/11/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N).
[4] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng, án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Đồng Văn T, Nguyễn Tất T3, Hà Văn T1, Nguyễn Văn C2, Phạm Văn N3, Lò Văn Đ và Giàng Văn C4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Phú |
Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 52/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng Văn Thân cùng Đồng phạm đánh bạc
