TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày: 22/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Bạch Tuyết
- Bà Lê Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Quyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/HSST-QĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Văn T, sinh ngày 01/01/1970; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Ấp A, Xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Số C, Đặng Văn K, khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trương Văn D (đã chết); Con bà: Võ Thị P, sinh năm: 1941; Vợ: Phạm Thị Bích L, sinh năm: 1979; Con có 02 người, sinh năm: 2006 và 2009; Anh, chị, em: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất sinh năm 1970.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/02/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Trần Bạch M, sinh năm: 1975; địa chỉ: số B L, phường P, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 1972; địa chỉ: số A, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Ông Trần Tấn T2, sinh năm: 1982; địa chỉ: số B đường N, phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Anh T3, sinh năm: 1977; địa chỉ: khu phố B, thị trấn V, huyện G, Tỉnh Tiền Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Ông Huỳnh Vĩnh T4, sinh năm: 2002; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện H, Tỉnh Bạc Liêu (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Chí T5, sinh năm: 1977; địa chỉ: Tổ G, ấp Đ, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm: 1996; địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Ông Hồ Văn H, sinh năm: 1971; địa chỉ: số F, T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Công ty TNHH Một thành viên S; Địa chỉ: Số C Đ, khu phố M, thị trấn C, huyện C, TP Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị Bích L – Giám đốc (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
- - Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1973; địa chỉ: ấp L, xã B, huyện G, Tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn T là nhân viên Công ty D, được giao vận hành lưới điện tại địa bàn huyện C. Do biết được tại trạm biến áp Q thuộc tổ B, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, của chị Trần Bạch M, sinh năm: 1975, nơi thường trú: B L, phường P, quận T, TP ., không còn hoạt động, không ai trông coi, nên nảy sinh ý định ý định trộm cắp. Ngày 13/10/2023 T gọi điện thoại cho ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 1972, nơi thường trú: 18/56A, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, thuê xe cẩu, đồng thời gọi điện thoại cho Trần Tấn T2, sinh năm: 1982, nơi thường trú: 27/15/14 N, phường A, quận G, TP ., làm nghề thợ điện để kêu đi làm công việc trông trụ điện. Khoảng 08 giờ ngày 14/10/2023 thì ông/Nguyễn Anh T3, sinh năm: 1977, nơi thường trú: Khu phố B, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang là tài xế xe cẩu cùng với ông Huỳnh Vĩnh T4, sinh năm: 2002, nơi thường trú: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, là phụ xe, cả hai cùng làm thuê cho ông T1, điều khiển 01 chiếc xe tải cẩu biển số: 51D – 32352, ông T2 điều khiển xe máy chạy đến tập trung ở nhà kho của T tại ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, cùng lúc đó có ông Nguyễn Chí T5, sinh năm: 1977, nơi thường trú: Tổ G, ấp Đ, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm: 1996, nơi thường trú: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, là cháu của T, cùng đang có mặt. Sau đó T cùng T5, C, T2, T6, T4, đi đến khu vực xã L, huyện C để làm công việc trông trụ điện. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì làm xong công việc, T nói với T2, T6, T4: Trên đường về ghé chở giúp anh T cái máy biến áp 03 pha cũ còn T5 với C thì đi về trước. Sau đó T dẫn đường cho T2, T6, T4 điều khiển xe cẩu, nói trên đến trạm biến áp Q. Khi đến nơi, T quan sát thấy không có ai nên kêu T2 vào bên trong trạm trèo lên trụ điện dùng máy bắn vít để tháo máy biến áp, tiếp đó kêu T6 đưa xe cẩu vào trong trạm cẩu máy biến áp đặt lên xe, sau đó T6, T4 điều khiển xe tải cẩu chở máy biến áp về để ở sân trước nhà kho của T; Đến ngày 15/10/2023 T gọi điện thoại cho Nguyễn Chí T5, Trần Tấn T2 nói T2 kêu thêm 01 người nữa sau đó T2 kêu ông Hồ Văn H, sinh năm: 1971, nơi thường trú: F T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, để đi thu hồi dây điện bằng qua đường. Khoảng 15 giờ ngày 15/10/2023, T điều khiển xe ô tô 16 chỗ biển số: 51B – 40710 chở T5 chạy đến trạm biến áp Q, còn T2 do đã biết được địa điểm nên cùng với H tự chạy xe đi. Khi đến nơi, T quan sát trong trạm không có ai nên kêu T2 và H vào trong trạm, mọi người trèo lên 01 trụ điện dùng thiết bị để tháo các vật tư điện, khi đó T2 sử dụng 01 cái kìm, H sử dụng 01 cái mỏ lếch, còn T với T5 đứng bên dưới lấy các vật tư điện do T2, H buộc dây thả xuống rồi đem lên xe ô tô. Vào thời điểm vừa tháo xong các vật tư điện và để lên xe thì bị anh Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1973, nơi thường trú: Ấp L, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang phát hiện, lúc đó T2 với H lên xe máy chạy đi còn bị can T với T5 bị H1 cùng một số người dân giữ lại đưa lên trụ sở Công an làm việc. Quá trình làm việc tại cơ quan Công an thì Võ Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, đồng thời chi điểm cho cơ quan Công an thu giữ máy biến áp.
Qua làm việc, chị Trần Bạch M là chủ sở hữu số tài sản bị mất cho biết: Không có cho hoặc thuê ai tháo dỡ, vận chuyển máy biến áp và các vật tư điện bên trong trạm biến áp Q.
Ông Nguyễn Thanh T1 cho thuê xe tải cẩu, nhưng không biết T thuê để trộm cắp máy biến áp. Nguyễn Anh T3, Huỳnh Vĩnh T4, Trần Tấn T2 thực hiện việc tháo dỡ, vận chuyển máy biến áp. Nguyễn Chí T5, Hồ Văn H giúp T thực hiện việc tháo dỡ các vật tư điện. Đều là những người làm thuê, thực hiện tháo dỡ, vận chuyển do nghĩ là tài sản của T, không biết T đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác.
Kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C xác định: Tổng giá trị tài sản của 02 lần trộm cắp là 73.995.000 đồng, gồm:
- + Máy biến áp trị giá: 73.376.000đồng.
- + Vật tư điện có tổng giá trị 619.000 đồng.
- - Về vật chứng thu giữ:
- + 01 cái máy biến áp phân phối 03 pha (sản xuất năm 2009);
- + 04 (bốn) bộ sứ đứng đỡ dây;
- + 04 (bốn) thanh đà sắt 2,4m;
- + 01 (một) dây cáp nhôm trần 50mm, dài 12,6m;
- + 06 (sáu) bộ dừng dây 95mm;
- + 03 (ba) dây cáp nhôm bọc 24KV 95mm, trong đó có 01 dây dài 11,3m, 02 dây còn lại mỗi dây dài 11,7m;
- + 03 (ba) bộ đóng cắt LBFCO POLYMER APPARAT;
- + 08 (tám) thanh chống dẹp sắt 92cm x 6cm;
Tất cả đều đã qua sử dụng, là tài sản của bị hại Trần Bạch M.
- + 01 Xe ô tô tải (có cần cẩu) nhãn hiệu THACO, biển số 51D-32352 đã qua sử dụng là tài sản của ông Nguyễn Thanh T1.
- + 01 máy bắn vít màu xanh đen; 01 cái kìm bằng kim loại không rõ nhãn hiệu, tay cầm bọc nhựa màu đen; 01 dây dù bản dẹp dài 2,9 mét, tất cả đều đã qua sử dụng là tài sản của ông Trần Tấn T2.
- + 01 cái mỏ lếch 12inch bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng là tài sản của ông Hồ Văn H.
- + 01 cái điện thoại SamSung Galaxy J4+, đã qua sử dụng là tài sản của ông Nguyễn Chí T5.
- + 01 xe ô tô màu bạc loại 16 chỗ, biển số 51B-40710 đã qua sử dụng, là tài sản của Công ty TNHH Một thành viên S, người đại diện theo pháp luật là bà Phạm Thị Bích L, sinh năm: 1979, HKTT: Số C Đ, khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 15/10/2023, Võ Văn T sử dụng xe đi trộm cắp bà L không biết.
Tất cả vật chứng đã được trả lại cho chủ sở hữu.
- + 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SamSung Galaxy A22, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SamSung Galaxy M51, màu xanh đã qua sử dụng là tài sản của Võ Văn T, sử dụng liên lạc với người đi tháo dỡ máy biến áp, vật tư điện.
Đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.
Bản cáo trạng số 40/CT-VKSCG ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Văn T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện lắp đạt lại máy như tình trạng ban đầu. Bà Trần Bạch M đã tự nguyện làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, xét có đủ có sở kết luận: Vào ngày 14, 15/10/2023 tại trạm biến áp Q thuộc tổ B, ấp L, xã L, huyện C, Võ Văn T đã có hành vi lén lút, bí mật trộm cắp tài sản của bà Trần Bạch M. Tài sản qua định giá có giá trị thành tiền là 73.995.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Từ đó, đã có đủ cở sở để Hội đồng xét xử xác định bị cáo Võ Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy bố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân mà còn gây mất tình hình trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng, nhân dân.
Xét bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức pháp luật để biết được việc trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật và là tội phạm. Song do bị cáo muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp pháp luật. Do đó, cần áp mức dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả; người bị hại đã tự nguyện làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về xử lý vật chứng:
- + 01 cái máy biến áp phân phối 03 pha (sản xuất năm 2009); 04 (bốn) bộ sứ đứng đỡ dây; 04 (bốn) thanh đà sắt 2,4m; 01 (một) dây cáp nhôm trần 50mm, dài 12,6m; 06 (sáu) bộ dừng dây 95mm; 03 (ba) dây cáp nhôm bọc 24KV 95mm, trong đó có 01 dây dài 11,3m, 02 dây còn lại mỗi dây dài 11,7m; 03 (ba) bộ đóng cắt LBFCO POLYMER APPARAT; 08 (tám) thanh chống dẹp sắt 92cm x 6cm. Tất cả đều đã qua sử dụng, là tài sản của bị hại Trần Bạch M. Quá trình điều tra tất cả vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- + 01 xe ô tô tải (có cần cẩu) nhãn hiệu THACO, biển số 51D-32352 đã qua sử dụng là tài sản của ông Nguyễn Thanh T1; 01 máy bắn vít màu xanh đen; 01 cái kìm bằng kim loại không rõ nhãn hiệu, tay cầm bọc nhựa màu đen; 01 dây dù bản dẹp dài 2,9 mét, tất cả đều đã qua sử dụng là tài sản của ông Trần Tấn T2; 01 cái mỏ lếch 12inch bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng là tài sản của ông Hồ Văn H; 01 cái điện thoại SamSung Galaxy J4+, đã qua sử dụng là tài sản của ông Nguyễn Chí T5; 01 xe ô tô màu bạc loại 16 chỗ, biển số 51B-40710 đã qua sử dụng, là tài sản của Công ty TNHH Một thành viên S, người đại diện theo pháp luật là bà Phạm Thị Bích L, sinh năm: 1979, HKTT: Số C Đ, khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 15/10/2023, Võ Văn T sử dụng xe đi trộm cắp bà L không biết. Quá trình điều tra tất cả vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- + 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SamSung Galaxy A22, màu đen đã qua sử dụng là tài sản của Võ Văn T được bị cáo sử dụng chơi trò chơi và xem tin tức, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nghĩ nên trả lại cho bị cáo; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SamSung Galaxy M51, màu xanh đã qua sử dụng là tài sản của Võ Văn T, bị cáo dùng để liên lạc và là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội xét sung ngân sách nhà nước.
- Đối với trường hợp của ông Nguyễn Thanh T1: vào ngày 14/10/2023 có cho bị cáo Võ Van T7 thuê 01 chiếc xe tải cẩu, tuy nhiên khi cho thuê xi thì T1 chỉ nghĩ T7 thuê để làm công việc bên ngành điện, không biết T7 thuê để trộm cắp máy biến áp nên không đồng phạm với bị cáo Võ Văn T.
Đối với trường hợp của Nguyễn Anh T3, Huỳnh Vĩnh T4: Vào ngày 14/10/2023 có giúp Võ Văn T thực hiện việc vận chuyển máy biến áp, tuy nhiên họ chỉ là người làm thuê cho ông Nguyễn Thanh T1, khi thực hiện công việc thì nghĩ máy biến áp mà T kêu vận chuyển vào ngày 14/10/2023 là tài sản của T, không biết tài sản này là tài sản mà bị cáo T trộm cắp của người khác nên không đồng phạm với bị cáo T.
Đối với trường hợp của Trần Tấn T2: Vào các ngày 14 và 15/10/2023 có giúp Võ Văn T thực hiện việc tháo dỡ máy biến áp và các vật tư điện, tuy nhiên T2 chỉ là người làm thuê cho T, khi thực hiện công việc thì T2 nghĩ là tài sản bên ngành điện, không biết số tài sản này là T trộm cắp của người khác nên không đồng phạm với bị cáo Võ Văn T.
Đối với trường hợp của Nguyễn Chí T5, Hồ Văn H: Ngày 15/10/2023 có giúp Võ Văn T thực hiện việc tháo dỡ các vật tư điện, tuy nhiên họ chỉ là người làm thuê cho T, khi thực hiện công việc thì không biết số tài sản này là tài sản T trộm cắp của người khác nên không đồng phạm với bị cáo Võ Văn T.
Đối với trường hợp của Nguyễn Mạnh C: Vào tối ngày 14/10/2023 có đến nhà kho của bị cáo Võ Văn T để ngủ và trông coi tài sản tại nhà kho giúp bị cáo T, tuy nhiên C không biết vụ việc vào ngày 14/10/2023 bị cáo Võ Văn T trộm máy biến áp của người khác rồi đem về để ở sân phía trước nhà kho nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm.
Do đó cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Anh T3, Huỳnh Vĩnh T4, Trần Tấn T2, Nguyễn Chí T5, Hồ Văn H và Nguyễn Mạnh C là đúng quy định.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện lắp đạt lại máy như tình trạng ban đầu. Bà Trần Bạch M đã tự nguyện làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Võ Văn T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Võ Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SamSung Galaxy M51, màu xanh đã qua sử dụng.
Hoàn trả cho bị cáo Võ Văn T 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SamSung Galaxy A22, màu đen đã qua sử dụng.
- Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Võ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Võ Văn T.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thụ |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: võ văn thanh trộm cắp tài sản
