|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST Ngày 19-11-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Yến
- Bà Nguyễn Minh Hằng.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L; nơi cư trú: Số G H, tổ dân phố H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- - Bị đơn: Anh Giang Trường C; nơi cư trú: Số G H, tổ dân phố H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/7/2024 và bản tự khai của nguyên đơn chị Vũ Thị L trình bày:
Năm 2005, chị và anh Giang Trường C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, có đăng ký kết hôn ngày 15 tháng 02 năm 2005 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.
Quá trình chung sống, vợ chồng có thời gian chung sống bình thường không có mâu thuẫn lớn. Từ năm 2019 cho đến nay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Mặt khác, chị L không tin tưởng anh C trong tình cảm, anh có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Khi sự việc xảy ra đầu tiên anh C chối bỏ, sau đó đã thừa nhận và chị L đã tạo điều kiện để cho anh C sửa chữa nhưng không có kết quả. Từ đó mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng căng thẳng. Trầm trọng nhất từ thời điểm chị nộp đơn xin ly hôn cho đến nay chị và anh C tuy sống chung một nhà, nhưng đã sống ly thân từ tháng 4/ 2024 cho đến nay không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh C, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Giang Trường C.
- Về con chung: Chị xác nhận chị và anh C có một con chung là Giang Thị Khánh L1, sinh ngày 29/10/2006. Hiện con chung Giang Thị Khánh L1 đã thành niên, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Vũ Thị L không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Giang Trường C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh G Trường Chinh vắng mặt, không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và không lấy được lời khai của anh Giang Trường C.
Đến ngày 29/10/2024, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng nhận được đơn đề nghị của anh Giang Trường C nội dung: Phiên tòa xét xử vào ngày 30/10/2024 do anh C phải đi công tác nên không tham dự được phiên tòa và không đồng ý ly hôn với lý do: Cuộc sống gia đình, việc vợ chồng, bố mẹ, anh chị em mâu thuẫn là điều khó tránh khỏi; ngay cả việc ăn cơm để rơi vãi hay thừa một vài hạt cơm cũng không phải không xảy ra đối với người ăn. Đặc biệt, sức khỏe của chị L không tốt nên nhiều khi có hành động bột phát. Do đó, đề nghị Tòa án bác đơn xin ly hôn của chị Vũ Thị L.
* Tòa án đã thu thập chứng cứ tại địa phương cũng như gia đình chị L, anh C thể hiện: Về nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Mặt khác, gia đình hai bên đều xác nhận anh C cũng có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng căng thẳng và trầm trọng. Tuy sống chung một nhà nhưng chị L và anh C đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Nay chị L có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án hòa giải cho chị L và anh C. Trường hợp hòa giải không thành, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; về con chung: Chị L và anh C có 01 con chung là Giang Thị Khánh L1, sinh ngày 29/10/2006. Hiện con chung Giang Thị Khánh L1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Địa phương, cũng như gia đình không có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị L vẫn giữ quan điểm xin ly hôn và khẳng định: Đã hết tình cảm với anh Giang Trường C. Do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C để chị yên tâm làm ăn, ổn định cuộc sống.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết từ giai đoạn thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử, xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ do Tòa án thu thập trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L được ly hôn anh Giang Trường C; về việc nuôi con: Chị Vũ Thị L và anh Giang Trường C có 01 con chung là Giang Thị Khánh L1, sinh ngày 29/10/2006. Hiện đã thành niên, nên không xem xét giải quyết; về tài sản: Chị Vũ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: Chị Vũ Thị L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- - Về tố tụng dân sự:
- + Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
- [1] Đây là quan hệ pháp luật về tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Giang Trường C cư trú tại địa bàn quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về sự vắng mặt của bị đơn:
- [2] Bị đơn anh Giang Trường C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Ngày 14 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ. Nhưng tại phiên tòa ngày 30 tháng 10 năm 2024 anh Giang Trường C vắng mặt lần thứ nhất. Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 và ấn định phiên tòa được mở lại vào hồi 08 giờ ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại phiên tòa bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do bất khả kháng. Nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung:
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị L và anh Giang Trường C được xác lập từ ngày 15 tháng 02 năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
- [4] Quá trình chung sống chị Vũ Thị L và anh Giang Trường C có thời gian dài vợ chồng chung sống bình thường không có mâu thuẫn lớn. Thời gian sau này vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Hơn nữa, chị L không còn tin tưởng anh C trong tình cảm. Nên từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay chị L và anh C tuy sống chung một nhà, nhưng đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm, kinh tế. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần tại các buổi hòa giải anh C đều vắng mặt, chứng tỏ anh C không mong muốn để vợ chồng đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa chị Vũ Thị L và anh Giang Trường C đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, chung thủy, chăm sóc giúp đỡ nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị L.
- [5] Về việc nuôi con: Chị Vũ Thị L và anh Giang Trường C có 01 con chung là Giang Thị Khánh L1, sinh ngày 29/10/2006. Hiện con đã thành niên, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- [6] Về việc chia tài sản: Chị Vũ Thị L không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về án phí:
- [7] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Vũ Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo:
- [8] Chị Vũ Thị L và anh Giang Trường C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Giang Trường C.
- Về việc nuôi con: Chị Vũ Thị L và anh Giang Trường C có 01 con chung là Giang Thị Khánh L1, sinh ngày 29/10/2006. Hiện con chung đã thành niên, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về việc chia tài sản: Chị Vũ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Vũ Thị L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005656 ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Chị Vũ Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Giang Trường C vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy đình của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị L - Giang Trường C
