Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN V

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày: 13-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Quốc Mậu.

Ông Trần Văn Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Vũ Hồng N, sinh năm 1978, tại tỉnh Nam Định;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn TĐ, xã YT, huyện Y, tỉnh Nam Định; nơi ở: Thôn H, xã YB (nay là xã HQ), huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hồng N1 và bà Phạm Thị M1; vợ là Nguyễn Khánh Bằng (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1997 và con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 09-10-2014 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù theo Bản án số 04/2015/HSST ngày 23-01-2015 (Nam đã chấp hành xong);

Ngày 01-10-2014 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù theo Bản án số 04/2015/HSST ngày 06-02-2015 (Nam đã chấp hành xong);

Ngày 23-5-2018 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù theo Bản án số 15/2019/HS-ST ngày 07-3-2019 (Nam đã chấp hành xong).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-7-2024 cho đến nay (Có mặt).

- Bị hại: Chùa P; địa chỉ: thôn Đ, xã LB (Nay là xã TL), huyện V, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo pháp luật của Chùa P: Ông Vũ Xuân Q, pháp danh: Thích Thanh Quân, sinh năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Đ, xã LB (Nay là xã TL), huyện V, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Vũ Xuân Q: Ông Trần Quốc T2 – Phó thôn Đ, xã LB (Nay là xã TL), huyện V, tỉnh Nam Định, theo giấy ủy quyền ngày 05-11-2024 (Có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị A, sinh năm 1991;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn R, xã YB (Nay là xã HQ), huyện Y, tỉnh Nam Định.

Nơi ở: Thôn H, xã YB (Nay là xã HQ), huyện Y, tỉnh Nam Định (Có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Ông Trần Đức K (Vắng mặt).
  • + Bà Trần Thị S (Vắng mặt).
  • + Ông Bùi Văn Đ (Vắng mặt).
  • + Ông Vũ Văn T3 (Vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Kim C (Vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Văn D (Vắng mặt).
  • + Chị Đinh Thị N3 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 05-5-2024, Vũ Hồng N một mình điều khiển xe ô tô loại Jolie, màu xanh, BKS: 29A-965.48 đi qua Chùa P thuộc thôn Đ, xã LB (nay là xã TL), huyện V, tỉnh Nam Định do ông Vũ Xuân Q (pháp danh: Thích Thanh Quân) là trụ trì, N quan sát thấy tại khuôn viên trong chùa có một pho tượng hình con nghê bằng đá xanh được đặt tại gốc cây sung gần cầu ao nên đã nảy sinh ý định trộm cắp pho tượng này để mang về sử dụng. Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, N chuẩn bị một xe rùa để lên cốp xe ô tô BKS: 29A-965.48, đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 06-5-2024, N điều khiển chiếc xe ô tô trên chở theo 03 nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của những người này) đi từ nhà trọ của N tại thôn H, xã YB ra đường Quốc lộ 10 đi đến Chùa P. Khoảng 02 giờ 15 phút cùng ngày, N điều khiển xe ô tô đi đến đỗ xe cách cổng chùa khoảng 100m. Sau đó, N một mình xuống xe, đi bộ tiến sát cổng chùa quan sát thì thấy không có ai trông coi chùa nên N quay lại xe ô tô lấy xe rùa xuống rồi bảo 03 nam thanh niên kia đi cùng. Khi tiến sát cổng chùa, thấy cánh cổng đóng và đã chốt nên N dùng xe rùa húc mạnh hai lần vào cánh cổng chùa làm cánh cổng bung vào phía trong. Do đã biết vị trí của pho tượng đá từ trước nên N dẫn 03 người thanh niên đi thẳng tới gốc cây sung gần cầu ao trong Chùa P rồi cả 04 người bê pho tượng hình con nghê để lên xe rùa đẩy đi ra ngoài cổng. Khi ra đến ngoài cổng, N điều khiển xe ô tô lùi lại để 03 người thanh niên kia bê pho tượng đá cùng xe rùa để lên xe ô tô rồi tất cả lên xe ô tô. Sau đó, N điều khiển xe ô tô đi theo hướng đường liên thôn từ Định Trạch đi thôn Tổ Cầu. Đi được khoảng

01km, N thấy tại lề đường bên phải cạnh gốc cây đa thuộc thôn Đ có nhiều cục đá các loại để tại đó nên đã xuống xe bê thêm 03 cục đá xanh, trong đó 02 cục đá kích thước (40 x 40 x 20)cm, 01 cục đá kích thước (35 x 35 x 20)cm để lên xe ô tô và tiếp tục điều khiển xe ô tô đi về nhà trọ của mình. Khi về đến nhà trọ, N để những đồ vật vừa lấy được tại nhà trọ để sử dụng.

Ngày 06-6-2024, Sở văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh Nam Định có bản Kết luận giám định đối với 01 con nghê đá thành bậc, chất liệu đá xanh, có vết nứt ở giữa lưng đã được gắn lại, trên lưng có vết vỡ được gắn lại, mũi bị sứt, kết luận: “Đồ vật trên không phải là bảo vật quốc gia. Đồ vật trên là cổ vật”.

Ngày 27-6-2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, tỉnh Nam Định có bản Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS, kết luận: 01 con nghê bằng đá xanh có vết nứt ở giữa lưng đã được gắn lại, trên lưng có vết vỡ được gắn lại, mũi bị sứt có giá trị là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSVB ngày 24-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Vũ Hồng N về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo mắc bệnh ung thư dạ dày và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt. Chiếc xe rùa là của bị cáo đã cũ và hư hỏng.

- Ông Trần Quốc T2: Chùa P đã nhận lại con nghê đá và không yêu cầu đề nghị gì.

- Chị Lê Thị A: Chiếc xe ô tô màu xanh, nhãn hiệu Jolie, BKS: 29A-965.48 là xe của chị, giấy tờ liên quan đến xe ô tô chị đang quản lý. Nay chị xin lại xe để sử dụng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Hồng N như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng N phạm tội trộm cắp tài sản.
  • + Về điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Hồng N từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 17-7-2024.
  • Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
  • + Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho chị Lê Thị A 01 xe ô tô màu xanh, nhãn hiệu Jolie, BKS: 29A-965.48 (xe cũ đã qua sử dụng). Tịch thu tiêu hủy 01 xe đẩy, loại xe rùa (xe cũ đã qua sử dụng).
  • + Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện V và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2]. Về tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với toàn bộ các lời khai của bị cáo, của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như vật chứng của vụ án đã thu giữ. Nên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 06-5-2024, tại Chùa P thuộc thôn Đ, xã LB (nay là xã TL), huyện V, tỉnh Nam Định, Vũ Hồng N đã cùng 03 đối tượng khác (chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể) thực hiện hành vi trộm cắp 01 pho tượng hình con nghê bằng đá xanh, có vết nứt ở giữa lưng đã được gắn lại, trên lưng có vết vỡ được gắn lại, mũi bị sứt, trị giá 10.000.000 đồng của Chùa P do ông Vũ Xuân Q quản lý.

Đối chiếu với quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành thì hành vi của bị cáo N đã thực hiện có đủ các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện V về hành vi phạm tội của bị cáo N là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của Chùa P và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó phải buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình và cần phải áp dụng loại hình phạt, cũng như mức hình phạt nghiêm minh tương xứng với mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Xét bị cáo Vũ Hồng N có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo mắc bệnh ung thư dạ dày nên áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5]. Về đường lối xử lý hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo N và 03 đối tượng chưa rõ lai lịch có tính chất đồng phạm giản đơn; trong đó bị cáo Vũ Hồng N là người khởi xướng, người chuẩn bị các công cụ, phương tiện và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, còn 03 đối tượng chưa rõ lai lịch là đồng phạm.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, vị trí, vai trò trong đồng phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly bị cáo N ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về 03 đối tượng cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với bị cáo N: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa đủ căn cứ để làm rõ nhân thân, lai lịch của các đối tượng, nên tách hồ sơ để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại Chùa P đã nhận lại pho tượng hình con nghê bằng đá xanh bị mất ngày 06-5-2024 và không yêu cầu bị cáo Vũ Hồng N phải bồi thường thiệt hại gì, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8]. Về xử lý vật chứng:

  • - 01 pho tượng hình con nghê bằng đá xanh. Ngày 19-7-2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại pho tượng trên cho ông Vũ Xuân Q quản lý là phù hợp.
  • - 02 cục đá xanh có kích thước (40 x 40 x 20)cm và 01 cục đá xanh có kích thước (35 x 35 x 20)cm. Qua xác minh, những cục đá trên là do người dân thôn Đ khi đào giếng làng tìm thấy đã mang lên để tại lề đường cho ai có nhu cầu sử dụng thì lấy và không thuộc sở hữu của ai. Do đó, ngày 23-7-2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại 03 cục đá xanh trên cho chị Lê Thị A (là người được Vũ Hồng N uỷ quyền) là phù hợp.
  • - 01 xe ô tô màu xanh, nhãn hiệu Jolie, BKS: 29A-965.48 (xe cũ đã qua sử dụng) là của chị Lê Thị A. Chị A không hề biết việc bị cáo cùng 03 đối tượng đã sử dụng xe ô tô của chị để đi trộm cắp tài sản của Chùa P nên trả lại chiếc xe ô tô này cho chị A.
  • - 01 xe đẩy, loại xe rùa xác định là của bị cáo đã sử dụng trộm cắp tài sản nay đã cũ giá trị sử dụng thấp nên tịch thu cho tiêu hủy.

[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vũ Hồng N phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Vũ Hồng N 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 7 năm 2024.

2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Trả lại cho chị Lê Thị A 01 xe ô tô màu xanh, nhãn hiệu Jolie, BKS: 29A-965.48 xe cũ đã qua sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 xe đẩy, loại xe rùa (xe cũ đã qua sử dụng).

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Vũ Hồng N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Hồng N, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, Nv liên quan;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện + tỉnh;
  • - PC 10, PV 06 CA tỉnh Nam Định;
  • - Công an huyện V;
  • - CCTHADS huyện V;
  • - UBND xã YT;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trường Nam

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Hồng N phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger