Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày: 08-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Chinh.
  2. Ông Lê Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Ú (Út Quần X) - sinh ngày 01/01/1983 tại Tiền Giang.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12.

Con ông Nguyễn Văn G (chết) và bà Nguyễn Thị M (chết).

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 05/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/11/2016 đã xoá án tích. Ngày 10/5/2019, bị Công an huyện C khởi tố về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo đã bỏ trốn và bị truy nã theo theo quyết định truy nã số 1372 ngày 10/7/2019 của Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tạm giữ ngày 08/05/2024; Tạm giam ngày 17/05/2024.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Anh Mai Nhựt Q - sinh năm 1991; Nơi cư trú: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị Thu L - sinh năm 1968; Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Văn Ú bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào chiều ngày 07/5/2024, Nguyễn Văn Ú, đi bộ từ ngã ba A theo Quốc lộ C đi về hướng địa bàn huyện C, tỉnh Đồng Tháp để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 02 giờ ngày 08/05/2024, Ú đi bộ đến dốc cầu C rẽ phải đi vào con đường đal, khi đến nhà của Mai Nhựt Q, sinh năm 1991, địa chỉ tổ A, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Ú thấy nhà của Q đang sửa chữa, không có hàng rào bảo vệ nên lén lút đột nhập vào phòng khách thấy trên mặt bàn kính hình chữ nhật có một sấp tiền nên đến lấy và đếm được 430.000 đồng (Bốn trăm ba mươi nghìn đồng). Tiếp đến, bị cáo Ú đi xuống khu vực nhà bếp thấy chiếc xe mô tô, loại FUTURE FI màu xám đen, biển số: 66F1-999.25 của anh Q đang dựng có sẵn chìa khóa trên xe nên Ú dẫn chiếc xe mô tô ra khỏi nhà về hướng cầu C được khoảng 70 mét rồi khởi động xe chạy đến cửa khẩu B, thị xã K, tỉnh Long An tìm nơi tiêu thụ. Đến 06 giờ sáng cùng ngày, anh Q bị mất xe nên trình báo Công an thị trấn M và Công an huyện C ra thông báo truy tìm. Đến khoảng 10 giờ ngày 08/5/2024, Công an xã B, thị xã K, tỉnh Long An tuần tra trên Quốc lộ F khi đến ấp Ô, xã B, thị xã K tỉnh Long An phát hiện nên bắt giữ Ú cùng tang vật. Sau đó, bàn giao người cùng tang vật cho Công an huyện C xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ trên người Ú số tiền 270.000 đồng; (Số tiền 430.000 đồng Ú lấy trộm tiêu xài còn lại 270.000 đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE FI đã qua sử dụng, màu xám đen, biển số: 66F1-999.25, số máy: JC90E0372207, số khung: RLHJC7652NY172658, xe đăng ký mới ngày 10/03/2023. Tại Biên bản và kết luận định giá tài sản số: 762/BB-HĐĐGTTHS ngày 09 tháng 05 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận xe mô tô trên trị giá 28.500.000 đồng. Ngày 13/5/2024 và ngày 01/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe và số tiền 270.000 đồng cho anh Q xong. Riêng số tiền Ú tiêu xài anh Q không yêu cầu Ú trả lại.

Cùng với phương thức, thủ đoạn trên, bị cáo còn khai nhận vào khoảng 02 giờ ngày 26/12/2019, bị cáo đi bộ theo tuyến lộ nông thôn để tìm nhà nào sơ hở vào lấy trộm tài sản, khi đến nhà bà Nguyễn Thị Thu L ngụ ấp M, xã M, huyện C, thấy cửa trước không khóa nên Ú dùng tay kéo nhẹ cửa ra rồi đột nhập vào trong lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Asus ZenFone Live màu trắng, 01 máy tính bảng hiệu Asus Zenpad 10 màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 150 và số tiền 14.000.000 đồng để trong bao lì xì, sau khi lấy trộm được tài sản, bị cáo đi ra đường cách nhà bà L khoảng 30 mét để kiểm tra. Do bị cáo không biết sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Asus ZenFone Live màu trắng và máy tính bảng hiệu Asus Zenpad 10 và nghĩ không bán được nên bỏ lại

tại hiện trường, bị cáo giữ lại chiếc điện thoại Nokia 150 và số tiền 14.000.000 đồng rồi rời khỏi hiện trường. Đến 06 giờ sáng cùng ngày, bà L phát hiện bị mất trộm tài sản nên trình báo sự việc đến Công an xã M và Công an huyện C đến khám nghiệm hiệm trường thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Asus ZenFone Live màu trắng, 01 máy tính bảng hiệu Asus Zenpad 10 màu trắng mà Ú bỏ lại tại hiện trường và 02 dấu đường vân tay in trên màn hình điện thoại Asus, 03 dấu đường vân tay trên túi nilon.

Tại bản kết luận số 184/KL-KTHS ngày 03/3/2020 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã giám định và kết luận 05 ảnh dấu vết đường vân kí hiệu A1 đến A5 dấu thu tại hiện trường là của bị cáo Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1983, nơi ĐKNKTT: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tại Biên bản và kết luận định giá tài sản số: 06/BB-HĐĐGTTHS ngày 24/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 150 màu trắng đã qua sử dụng có trị giá 350.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Asus ZenFone Live màu trắng đã qua sử dụng có trị giá 600.000 đồng; 01 chiếc máy tính bảng hiệu Asus Zenpad 10 màu trắng đã qua sử dụng có trị giá 2.100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 3.050.000 đồng (Ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Sau khi định giá xong, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bà L 01 chiếc điện thoại di động hiệu Asus ZenFone Live màu trắng, 01 chiếc máy tính bảng hiệu Asus Zenpad 10 màu trắng. Riêng đối với chiếc điện thoại N 150 bị cáo Ú sử dụng một thời gian bị hư nên bỏ mất không thu hồi được, số tiền 14.000.000 đồng bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.

Về trách nhiệm dân sự: Bà L yêu cầu bị cáo Ú bồi thường tổng số tiền 14.350.000 đồng (số tiền 14.000.000 đồng và chiếc điện thoại N trị giá 350.000 đồng), bị cáo Ú đồng ý bồi thường nhưng chưa có khả năng khắc phục.

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSHCL ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ú về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ú với mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tạm quản lý 01

điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 là tài sản cá nhân của bị cáo Ú để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 Bộ luật dân sự. Đề nghị Tòa án huyện C buộc bị cáo Nguyễn Văn Ú phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thu L số tiền 14.350.000 đồng.

* Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Ú đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 42/CT-VKSHCL ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu nên vào khoảng vào lúc 02 giờ ngày 08/05/2024, bị cáo đã có hành vi lén lút vào nhà của anh Mai Nhựt Q cư ngụ khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Q bao gồm số tiền 430.000 đồng và một xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE FI, biển số: 66F1-999.25, trị giá 28.500.000 đồng, tổng giá trị tài sản của anh Q đã bị chiếm đoạt là 28.930.000 đồng. Quá trình mở rộng điều tra đã phát hiện bị cáo còn có hành vi lén lút vào nhà của bà Nguyễn Thị Thu L cư ngụ ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào khoảng 02 giờ ngày 26/12/2019 để lấy trộm các tài sản của bà L bao gồm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Asus ZenFone Live màu trắng, 01 máy tính bảng hiệu Asus Zenpad 10 màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 150 và số tiền 14.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản của bà L đã bị chiếm đoạt là 17.050.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của anh Q và bà L là 45.980.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo biết rõ hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật bởi vì

bị cáo đã từng bị kết án về tội phạm này nhưng lại tiếp tục có hành vi phạm tội như đã nêu trên, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do vậy, cân phải áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[5] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Ú đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, tuy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và cũng đã ăn năng hối cải nên cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có hành vi phạm tội hai lần và cả hai lần phạm tội đều có đủ định lượng cấu thành tội phạm nên cần áp dụng đối với bị cáo tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, người bị hại là anh Mai Nhựt Q đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét. Đối với bị hại bà Nguyễn Thị Thu L đã nhận lại các tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus Zenphone Live màu trắng và 01 máy tính bảng nhãn hiệu Asus Zenpad 10 màu trắng nên không có yêu cầu gì, riêng số tiền 14.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 trị giá 350.000 đồng thì bị cáo chiếm đoạt và đã tiêu xài cá nhân hết nên bà L yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm trả lại; tại phiên tòa, bị cáo đồng ý có trách nhiệm trả lại cho bà L số tiền 14.000.000 đồng và bồi thường 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 cho bà L với số tiền là 350.000 đồng, tổng cộng số tiền mà bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho bà L là 14.350.000 đồng (mười bốn triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng).

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 là tài sản cá nhân của Ú không liên quan đến việc phạm tội. Tuy nhiên cần tạm giao cơ quan Thi hành án quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo luật định.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện C về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ú 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/05/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự và Điều 48 Bộ luật hình sự; buộc bị cáo Nguyễn Văn Ú phải có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu L số tiền 14.000.000 đồng và bồi thường cho bà L một điện thoại di động hiệu Nokia 150 với số tiền là 350.000 đồng, như vậy tổng số tiền mà bị cáo phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thu L là 14.350.000 đồng (mười bốn triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tạm quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 của bị cáo Nguyễn Văn Ú để đảm bảo cho việc thi hành án.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ú phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 717.500 (bảy trăm mười bảy nghìn năm trăm) đồng.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - CA huyện Cao Lãnh;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Trường Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Út phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Út 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/05/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger