Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày: 01 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Ông Phạm Công Luận

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 15/7/1991, tại tỉnh Bến Tre, tên gọi khác: không; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. nghề nghiệp: làm vườn; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966 (đã chết) và bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1964; có vợ Lê Thị Minh T1, sinh năm 1998 (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.

    Về nhân thân:

    • + Ngày 27/4/2005, Ủy ban nhân dân huyện G ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng số 47/QĐ-UB về hành vi trộm cắp và đánh nhau, với thời hạn 24 tháng.
    • + Ngày 02/12/2010, Ủy ban nhân dân tỉnh B ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục số 2662/QĐ-UB(NC) về hành vi trộm cắp, đánh nhau gây mất trật tự, với thời hạn 24 tháng.
    • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2016/HS-ST ngày 22/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, xử phạt 06 tháng tù về “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản” (bị cáo kháng cáo).
    • + Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 15/2017/HS-PT ngày 28/02/20217 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 06 tháng tù về “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản” chấp hành xong án phạt tù ngày 30/8/2017.
    • + Ngày 23/01/2024, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC đối với về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/01/2024, số tiền phạt 1.500.000 đồng.
    • - Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/01/2024 cho đến nay (có mặt).
  2. Cao Hoàng L, sinh ngày 03/8/1993, tại tỉnh Bến Tre, tên gọi khác: không. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn H1 sinh năm 1966 và bà Phạm Thị T2, sinh năm 1968; có vợ: Trần Thị H2, sinh năm 1992 (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2014, tiền án, tiền sự: không.

    Về nhân thân:

    • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2012/HS-ST ngày 25/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, xử phạt 03 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/12/2012.
    • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2020/HS-ST ngày 02/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, xử phạt 01 năm 06 tháng tù về “Tội cướp giật tài sản” chấp hành xong án phạt tù ngày 10/10/2021.
    • + Ngày 23/01/2024, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/01/2024, số tiền phạt 1.500.000 đồng.
    • - Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/01/2024 cho đến nay (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Anh Lê Văn M, sinh năm 1995. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1989. Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  3. Anh Đỗ Tấn Đ1, sinh năm 1988. Nơi cư trú; ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  4. Anh Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 1999. Nơi cư trú; ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  5. Anh Phạm Hoài N, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 18/01/2024, Cao Hoàng L, Lê Văn M, Nguyễn Tấn Đ, Đỗ Tấn Đ1, Nguyễn Hoàng T3, Phạm Hoài N, đến nhà Nguyễn Văn T tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre để chơi. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, T muốn mua ma túy cho cả nhóm cùng sử dụng nên liên hệ với người nam thanh niên tên Ba K ở huyện B, tỉnh Bến Tre để hỏi mua 01 gói ma túy (loại ma túy đá) với giá 300.000đồng, T thanh toán bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng rồi mượn xe mô tô của T3 (nói là đi công việc) để đưa cho L, kêu L đến khu vực ngã ba S thuộc xã H, huyện G để lấy ma túy.

Khi L đi lấy gói ma túy về thì đưa cho T, L lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy do L làm trước đó đưa cho T, T lấy một phần của gói ma túy vừa mua bỏ vào nỏ đưa cho L đốt lên. Lượng đốt ma túy xong thì đưa lại cho T để cả nhóm sử dụng, T thấy chưa vừa ý nên tiếp tục đốt ma túy lần nữa. Lúc này, L và M ra nhà sau nói chuyện, còn T cùng với T3, N, Nguyễn Tấn Đ, Đỗ Tấn Đ1 sử dụng ma túy tại phòng khách nhà T. Sau đó, L và M lên phòng khách cùng sử dụng ma túy chung. Khi sử dụng hết ma túy trong nỏ, T3, M, Đỗ Tấn Đ1 ra về, T và N đi uống rượu, còn L và Nguyễn Tấn Đ ở lại nhà T.

Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, T và N trở về nhà của T, T lấy hết số ma túy còn lại bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của L rồi đốt lên cùng sử dụng ma túy với L, N và Nguyễn Tấn Đ tại phòng ngủ của T.

- Vật chứng tạm giữ:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại cảm ứng, vỏ màu đen, 01 xe mô tô 71V2-2959.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, loại cảm ứng, vỏ màu xanh; 01 cục sạc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu trắng.
  • + 01 xe mô tô biển số 71B4-817.47.
  • + 03 camera, nhãn hiệu YOOSEE; 06 con dao dài lần lượt là 35cm, 45cm, 50cm, 50cm, 70cm, 67cm.
  • + 01 ống nhựa màu trắng dài 0,8cm.
  • + 01 gói nylon được hàn kín 03 cạnh, có 01 cạnh bị cắt hở, kích thước (0,1 x 1,5) cm, bên trong dính hạt li ti màu trắng, nghi là ma túy.
  • + 01 mảnh nylon màu trắng có rảnh khép và sọc màu xanh;
  • + 01 mảnh nylon trắng kích thước (1,8 x 0,5cm)
  • + 01 bình thủy tinh, phần trên bằng nhựa màu trắng, có nắp đậy màu đỏ, gắn ống hút màu trắng, ống thủy tinh tạo hình;
  • + 01 bộ bài tây 52 lá; 01 bật lửa; 01 bịch ống hút nhựa sọc màu trắng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím; 44 tờ giấy ghi nội dung vay mượn tiền.

Tại Kết luận giám định số 86/2024/KL-KTHS ngày 15/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Hạt li ti màu trắng dạng vết dính trong 01 gói nylon được niêm phong ký hiệu NS4, mã số NS4 2000060 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu cần giám định tồn tại ở dạng vết.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T, Cao Hoàng L khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập.

Bản Cáo trạng số 51/CT-VKSGT, ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố Nguyễn Văn T, Cao Hoàng L về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Cao Hoàng L khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Cao Hoàng L phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Hoàng L mức có án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, đã xử lý các vật chứng như sau:

  • + Trả lại cho Phạm Hoài N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại cảm ứng, vỏ màu đen, 01 xe mô tô 71V2-2959.
  • + Trả cho Châu Hoàng N1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, loại cảm ứng, vỏ màu xanh; 01cục sạc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu trắng.
  • + Trả lại cho Lê Thị Minh T1: 01 xe mô tô 71B4-817.47.
  • + Trả cho bị cáo T: 03 camera, nhãn hiệu YOOSEE; 06 con dao dài lần lượt là 35cm, 45cm, 50cm, 50cm, 70cm, 67cm.
  • - Đối với: 01 ống nhựa màu trắng dài 0,8cm; 01 gói nylon được hàn kín 03 cạnh, có 01 cạnh bị cắt hở, bên trong dính hạt li ti màu trắng; 01 mảnh nylon màu trắng có rảnh khép và sọc màu xanh; 01 mảnh nylon trắng kích thước (1,8 x 0,5cm) được niêm phong trong phong bì số 86/2024 có chữ ký tên Huỳnh Thanh N2, Phan Trung T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 bình thủy tinh, phần trên bằng nhựa màu trắng, có nắp đậy màu đỏ, gắn ống hút màu trắng, ống thủy tinh tạo hình; 01 bộ bài tây 52 lá; 01 bật lửa; 01 bịch ống hút nhựa sọc màu trắng; 44 tờ giấy ghi nội dung vay mượn tiền. Là mẫu vật còn lại sau giám định, dụng cụ sử dụng ma túy và vật chứng không còn giá trị sử dụng xét tịch thu và tiêu hủy.
  • + Trả lại cho bị cáo L: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, những người làm chứng: Anh Lê Văn M, anh Nguyễn Tấn Đ, anh Đỗ Tấn Đ1, anh Nguyễn Hoàng T3, anh Phạm Hoài N đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra những người làm chứng này đã có lời khai rõ ràng nên sự vắng mặt của những người làm chứng không trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Cao Hoàng L đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai những người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập, do vậy có cơ sở khẳng định:

Trong ngày 18/01/2024, tại nhà của Nguyễn Văn T thuộc ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre, T và Cao Hoàng L đã hai lần tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó T là người mua ma túy, L là người đi lấy ma túy và cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy. Lần thứ nhất, tổ chức cho Lê Văn M, Nguyễn Tấn Đ, Đỗ Tấn Đ1, Nguyễn Hoàng T3, Phạm Hoài N cùng sử dụng trái phép chất ma túy với T và L tại phòng khách nhà của T. Lần thứ hai, tổ chức cho Phạm Hoài N, Nguyễn Tấn Đ cùng sử dụng trái phép chất ma túy với T và L tại phòng ngủ của T.

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T, Cao Hoàng L đủ yếu tố cấu thành tội “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi tổ chức cho người khác sự dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác bởi ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy giảm nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

  • - Về nhân thân: tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng các bị cáo đều có nhân thân xấu.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngoài tình tiết định tội và định khung hình phạt các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có con nhỏ nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ

[6] Xét về vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng người trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án án này, bị cáo T và L hai lần tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, lần thứ nhất tổ chức cho Lê Văn M, Nguyễn Tấn Đ, Đỗ Tấn Đ1, Nguyễn Hoàng T3, Phạm Hoài N cùng sử dụng trái phép chất ma túy với T và L tại phòng khách nhà của T. Lần thứ hai, tổ chức cho Phạm Hoài N, Nguyễn Tấn Đ cùng sử dụng trái phép chất ma túy với T và L tại phòng ngủ của T. Trong hai lần tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy bị cáo T giữ vai trò chính là người cung cấp ma túy (liên hệ mua ma túy), cung cấp địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo L là người giúp sức tích cực cho bị cáo T trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma trúy, bị cáo cho L đi nhận ma túy của bị cáo T đã liên hệ mua và cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra, xét thấy các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, do vậy việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định là điều cần thiết, nhằm để cải tạo, giáo dục các bị cáo sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, đã xử lý các vật chứng như sau:

  • - Trả lại cho Phạm Hoài N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại cảm ứng, vỏ màu đen, 01 xe mô tô 71V2-2959.
  • - Trả lại cho Châu Hoàng N1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, loại cảm ứng, vỏ màu xanh; 01 cục sạc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu trắng.
  • - Trả lại cho Lê Thị Minh T1: 01 xe mô tô 71B4-817.47.
  • - Trả cho bị cáo T: 03 camera, nhãn hiệu YOOSEE; 06 con dao dài lần lượt là 35cm, 45cm, 50cm, 50cm, 70cm, 67cm.

Xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G trả lại các vật chứng nêu trên cho các chủ sở hữu do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với: 01 ống nhựa màu trắng dài 0,8cm; 01gói nylon được hàn kín 03 cạnh, có 01 cạnh bị cắt hở; 01 mảnh nylon màu trắng có rảnh khép và sọc màu xanh; 01 mảnh nylon trắng kích thước (1,8 x 0,5cm) sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 86/2024 có chữ ký tên Huỳnh Thanh N2, Phan Trung T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 bình thủy tinh, phần trên bằng nhựa màu trắng, có nắp đậy màu đỏ, gắn ống hút màu trắng, ống thủy tinh tạo hình; 01 bộ bài tây 52 lá; 01 bật lửa; 01 bịch ống hút nhựa sọc màu trắng; loại bàn phím; 44 tờ giấy ghi nội dung vay mượn tiền. Là mẫu vật còn lại sau giám định, dụng cụ sử dụng ma túy và vật chứng không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu và tiêu hủy theo quy định khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia của bị cáo L không liên quan đến hành vi phạm tội nên xét trả lại cho bị cáo T theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Đối với việc Nguyễn Văn T khai gọi điện thoại mua ma túy của người nam thanh niên tên Ba K và thanh toán bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy của đối tượng trên để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với cáo các bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp trong vụ án là đúng với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T và Cao H3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Cao Hoàng L phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.

  2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Phạt bị cáo Cao Hoàng L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.

  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    - Tịch thu và tiêu hủy:

    • + 01 ống nhựa màu trắng dài 0,8cm; 01 gói nylon được hàn kín 03 cạnh, có 01 cạnh bị cắt hở; 01 mảnh nylon màu trắng có rảnh khép và sọc màu xanh; 01 mảnh nylon trắng kích thước (1,8 x 0,5cm) sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 86/2024 có chữ ký tên Huỳnh Thanh N2, Phan Trung T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B.
    • + 01 bình thủy tinh, phần trên bằng nhựa màu trắng, có nắp đậy màu đỏ, gắn ống hút màu trắng, ống thủy tinh tạo hình; 01 bộ bài tây 52 lá; 01 bật lửa; 01 bịch ống hút nhựa sọc màu trắng; 44 tờ giấy ghi nội dung vay mượn tiền

    Trả lại cho bị cáo Cao Hoàng L: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím.

    (Các vật chứng nêu trên được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 01/10/2024 giữa Công an huyện G với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, bị cáo Cao Hoàng L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Giồng Trôm;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Giồng Trôm;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Giồng Trôm;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Bến Tre;
  • - Bộ phận Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát
  •   Công an huyện Giồng Trôm;
  • - Bộ phận Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát
  •   Công an tỉnh Bến Tre;
  • - Các bị cáo;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 01/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger