|
TAND HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HNGĐ - ST Ngày 25/9/2024 “V/v ly hôn giữa chị Anh và anh Thông”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hải Đăng
2. Bà Nguyễn Thị Cương
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/6/2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 23/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-DS ngày 09/9/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Quế A, sinh năm 1999
Địa chỉ: Xóm X, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Lộc Văn T, sinh năm 1999
Địa chỉ: Bản B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn ghi ngày 05/3/2024 và bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Ngọc Quế A trình bày: Chị và anh Lộc Văn T kết hôn năm 2019 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau ngày cưới anh chị đoàn tụ và chung sống hòa thuận đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không còn hoà hợp, không có tiếng nói chung, thường xảy ra to tiếng, cãi cọ nhau. Anh chị đã chấm dứt quan hệ vợ chồng từ năm 2023. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, không còn yêu thương, quan tâm đến nhau nữa, chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Lộc Quế C, sinh ngày 19/6/2019, hiện đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn là anh Lộc Văn T, mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, giao các văn bản tố tụng nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Ngọc Q và bị đơn là anh Lộc Văn T đều vắng mặt (chị Quế A có đơn xin xét xử vắng mặt).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Toà án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Ngọc Quế A được ly hôn với anh Lộc Văn T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Ngọc Quế A được trực tiếp nuôi con chung là Lộc Quế C, sinh ngày 19/6/2019. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra.
- Về án phí: chị Quế A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thẩm quyền: Anh Lộc Văn T có nơi cư trú trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên việc Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về sự vắng mặt của đương sự: Mặc dù nguyên đơn là chị Nguyễn Ngọc Quế A và bị đơn là anh Lộc Văn T vắng mặt nhưng chị Quế A có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên cần áp dụng khoản 2 điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Xem xét yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc Quế A xin ly hôn anh Lộc Văn T: Chị A và anh T kết hôn với nhau ngày 19/7/2019 dựa trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, mặc dù anh chị có thời gian chung sống hoà thuận và đã có một con chung nhưng đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không còn hoà hợp, thường xảy ra to tiếng cãi cọ nhau. Từ đó, anh chị sống ly thân, không còn yêu thương, quan tâm đến nhau nữa. Nay chị A vẫn cương quyết xin ly hôn, còn anh T không đến Tòa án làm việc và tham gia phiên hòa giải, cũng không không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị A, chứng tỏ anh T cũng không có nguyện vọng đoàn tụ. Vì vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị A, xử cho chị A được ly hôn anh T.
[4]. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lộc Quế C, sinh ngày 19/6/2019, hiện con chung đang ở cùng chị A, đời sống và sức khoẻ vẫn được đảm bảo. Nay chị A yêu cầu được nuôi con chung, còn anh T không đưa ra ý kiến, yêu cầu về việc nuôi con chung nên cần giao cho chị A trực tiếp nuôi con chung là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị A tự nguyện không yêu cầu nên nghĩa vụ này không đặt ra đối với anh T cho đến khi các đương sự có yêu cầu.
[5]. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Quế A không thuộc trường hợp được miễn, giảm tiền án phí nên chị Quế A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Ngọc Quế A được ly hôn anh Lộc Văn T.
2/ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Ngọc Quế A trực tiếp nuôi con chung là Lộc Quế C, sinh ngày 19/6/2019. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra cho đến khi đương sự có yêu cầu.
3/ Án phí: Chị Nguyễn Ngọc Quế A phải chịu 300.000đ án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ chị A đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004983 ngày 11/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế (xác nhận chị A đã nộp đủ tiền án phí).
4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Mạnh Hà |
Bản án số 53/2024/HNGĐ - ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH Quế Anh Thông
