|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày: 25-09-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hoàn
2. Ông Lê Thanh Hải
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên toà: Bà Ma Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 09 năm 2024, tại Hội trường Nhà văn hóa xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 19/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 23/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày 16 tháng 8 năm 1967; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: không; trình độ học vấn: 7/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Xuân T1 (đã chết) và bà Vũ Thị T2; Vợ: Nguyễn Thị Q, vợ chồng có 03 con chung (con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2010); Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 0098732/QĐ-XPHC ngày 23/4/2019 của Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000đ về hành vi Đánh bạc, nộp phạt ngày 24/4/2019.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị H, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm P, xã H, huyện Đ, Thái Nguyên.
Người tham gia tố tụng khác:
+ Người chứng kiến: Bà Trương Thị H1, sinh năm 1967(Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm T, xã V, huyện Đ, Thái Nguyên.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 15 phút ngày 18/6/2024, tổ công tác của Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an xã V đang làm nhiệm vụ tại địa bàn xóm T, xã V, huyện Đ thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 trú tại: xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, biển kiểm soát 20B1 – 75013, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, T đã tự giác lấy ra từ trong túi quần phía sau bên trái đang mặc của T 02 gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (T khai là ma túy Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong và thu giữ vật chứng theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 745/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,280gam.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn T khai: T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2020 đến nay, chưa bỏ được. Khoảng 8 giờ 15 phút ngày 18/6/2024, T một mình điều khiển xe máy từ nhà xuống khu vực cầu K, thuộc xóm T, xã V, huyện Đ với mục đích để tìm mua ma túy, sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không rõ tên, tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể và mua 02 gói Heroine của người đàn ông này với giá 400.000đ. T cất ma túy vừa mua được vào trong túi quần phía sau bên trái của mình đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến đoạn đường thuộc xóm T, xã V, huyện Đ thì bị tổ công tác của Công an huyện Đ kiểm tra bắt giữ, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKSĐH ngày 14/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ giữ nguyên bản Cáo trạng số 46/CT-VKSĐH ngày 14/8/2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Văn T từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng được niêm phong trong 02 phong bì A1, LK. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
2
Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 9h15 phút ngày 18/6/2024, tại khu vực xóm T, xã V, huyện Đ, bị cáo T đã có hành vi tàng trữ 0,280gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;..."
Bản cáo trạng số 46/CT-VKSĐH ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Nguyễn Văn T theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến chính sức khỏe của bị cáo, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
3
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu, tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự
[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, qua xác minh và lời khai tại phiên tòa không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô YAMAHA JUPITER, màu sơn xanh trắng, BKS 20B1 – 75013 thu giữ của bị cáo, đăng ký chủ sở hữu mang tên Lê Thị H đây là tài sản của chị H, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H quản lý, sử dụng.
Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và các vật chứng khác không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực cầu K, thuộc xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, do bị cáo T không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 18/6/2024.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
4
3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
4.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: +01 (Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1.
+ 01 (Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu LK.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ)
5.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châm Thị Vân Khánh |
5
6
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép chất ma tuý
