Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LT

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06 - 9 - 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kim Thị Ánh Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành

Bà Trần Thị Kim Khuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Triều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Đỗ Xuân Phú- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Khánh L, sinh năm 1998 (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn P, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc
  • - Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1996.(vắng mặt)
  • Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 3, Trại giam T1, địa chỉ: Xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Trần Thị Khánh L trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Văn T ngày 07/5/2018 trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn chị về làm dâu và sống chung cùng gia đình anh T, cuộc sống vợ chồng ban đầu hòa thuận hành phúc, đến tháng 8/2021 anh T bị bắt về cướp tài sản và Tòa án tuyên phạt 04 năm tù giam. Hiện nay anh T đang chấp hành án tại Trại giam T1, địa chỉ: xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, vợ chồng sống ly thân từ đó đế nay, kể từ khi anh T đi chấp hành án tình cảm vợ chồng xa cách và phai nhạt. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn T.

Bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại bản tự khai ngày 30/7/2024, anh T trình bày: Anh và chị Trần Thị Khánh L kết hôn ngày 07/5/2018, trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng với gia đình anh, quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc đến ngày 02/8/2021 anh bị bắt và xét xử về tội cướp tài sản và bị Tòa án tuyên phạt 04 năm tù, hiện nay anh đang chấp hành án ở Trại giam T1, trong thời gian chấp hành án tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn chị L có đơn xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Chị L và anh T đều trình bày: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Thị Kim N, sinh ngày 21/7/2015 và cháu Trần Hoàng Đức M, sinh ngày 20/9/2018, hiện nay cháu N, cháu M đang ở cùng chị L. Ly hôn chị L đề nghị được nuôi cháu N và cháu M, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; anh T đồng ý để chị L nuôi cháu N, cháu M và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L cho chị Trần Thị Khánh L ly hôn với anh Trần Văn T. Về con chung, giao cháu cháu Trần Thị Kim N, sinh ngày 21/7/2015 và cháu Trần Hoàng Đức M, sinh ngày 20/9/2018 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị Khánh L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; bị đơn anh Trần Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nên Tòa án nhân dân huyện LT thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn là anh Trần Văn T: Tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Khánh L và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của chị L và anh T là hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T hiện đang đi chấp hành án tại Trại giam T1 nên tình cảm vợ chồng phai nhạt; chị L và anh T đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị được ly hôn anh T; anh T đồng ý ly hôn chị L. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ để xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, kết quả xác minh cho thấy hiện anh T phải đi chấp hành án và anh chị có mâu thuẫn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định, anh T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được việc chị L xin ly hôn anh T là có căn cứ phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung là cháu Trần Thị Kim N, sinh ngày 21/7/2015 và cháu Trần Hoàng Đức M, sinh ngày 20/9/2018; hiện nay cháu N, cháu M đang ở cùng với chị L. Ly hôn chị L đề nghị được nuôi cháu N và cháu M, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, anh T đồng ý. Xét thấy, hiện nay anh T đang phải chấp hành án tại Trại giam T1 không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục được con chung, cháu N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ và cháu M còn nhỏ tuổi. Do vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của con sau khi cha mẹ ly hôn theo quy định của pháp luật, nên cần giao cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu N, cháu M là phù hợp. Do chị L không yêu cầu nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Trần Thị Khánh L tự nguyện chịu toàn bộ phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Khánh L được ly hôn với anh Trần Văn T.
  2. Về con chung: Chị Trần Thị Khánh L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Thị Kim N, sinh ngày 21/7/2015 và cháu Trần Hoàng Đức M, sinh ngày 20/9/2018. Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Trần Thị Khánh L tự nguyện chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000404 ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc; Hoàn trả chị L 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện LT;
  • - Chi cục THADS huyện LT;
  • - Các đương sự.
  • - UBND xã Đ (ĐKKH năm 2018);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Kim Thị Ánh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Khánh L được ly hôn với anh Trần Văn T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger