|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 8 năm 2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà
Ông Phạm Công Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích, sinh năm 1984; Địa chỉ: Khu Nghĩa Phước, thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Công Vũ, sinh năm 1977; Địa chỉ: K159/1 đường Lê Duẩn, phường Hải Châu 2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai, các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn –bà Nguyễn Thị Ngọc Bích trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Văn Công Vũ chung sống như vợ chồng từ năm 2005 nhưng đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hải Châu 2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ tôi tại địa chỉ Khu Nghĩa Phước, thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Bản thân ông Vũ nhiều lần ngoại tình và tôi cũng nhiều lần tha thứ nhưng ông Vũ vẫn tiếp tục có những mối quan hệ bất chính với nhiều người phụ nữ khác. Vợ chồng tôi đã nhiều lần ly thân nhưng sau đó lại hàn gắn, lần gần nhất ly thân là từ tháng 7/2022 cho đến nay. Nay tôi xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Vũ.
Về quan hệ con chung: Tôi xác định tôi và ông Nguyễn Văn Công Vũ có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 và Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007 và không yêu cầu ông Vũ cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 đã trưởng thành nên không đề cập đến.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Theo Bản tự khai, các Biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn – ông Nguyễn Văn Công Vũ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Thị Ngọc Bích chung sống như vợ chồng từ năm 2005 nhưng đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hải Châu 2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ vợ tại địa chỉ Khu Nghĩa Phước, thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tôi có những lúc bốc đồng nên có quan hệ bất chính với nhiều người phụ nữ khác. Vợ chồng tôi đã sống ly thân từ tháng 7/2022 cho đến nay. Tuy nhiên hiện nay tôi vẫn còn yêu thương vợ con và hứa sẽ sửa chữa bản thân để vợ chồng cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
Về con chung: Tôi và bà Nguyễn Thị Ngọc Bích có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 và Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007.
Nếu ly hôn, tôi đồng ý giao con chung Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007 cho bà Bích trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 đã trưởng thành nên không đề cập đến.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Xử bà Nguyễn Thị Ngọc Bích được ly hôn với ông Nguyễn Văn Công Vũ; Giao con chung Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007 cho bà Bích trực tiếp nuôi dưỡng, ông Vũ không cấp dưỡng nuôi con; Riêng con chung Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 đã trưởng thành nên không đề cập đến; Về tài sản chung, về nợ chung: không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Bích đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Công Vũ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố dụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Văn Công Vũ và bà Nguyễn Thị Ngọc Bích chung sống như vợ chồng từ năm 2005 nhưng đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hải Châu 2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ bà Bích tại địa chỉ Khu Nghĩa Phước, thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Trong cuộc sống vợ chồng thường nguyên phát sinh mâu thuẫn, từ tháng 7/2022 ông Vũ về nhà cha mẹ ruột để sinh sống và ông bà ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông Vũ thường xuyên có mối quan hệ bất chính với nhiều người phụ nữ khác. Bà Bích đã nhiều lần khuyên can và tha thứ nhưng ông Vũ vẫn không quay về để hàn gắn gia đình. Nay bà Bích xác định tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông Vũ.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Cuộc hôn nhân của ông Nguyễn Văn Công Vũ và bà Nguyễn Thị Ngọc Bích là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Đến nay, bà Bích cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài và không còn tình cảm với ông Vũ nữa nên có quyền làm đơn khởi kiện xin ly hôn theo quy định của pháp luật. Đối với ông Vũ có ý kiến mong muốn hàn gắn gia đình nhưng ông Vũ không quay về tiếp tục chung sống cùng bà Bích mà có những mối quan hệ bất chính khác. Qua đó, thể hiện ông Vũ đã không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Kết quả xác minh tại địa phương cho thấy, vợ chồng ông Vũ và bà Bích không còn chung sống với nhau tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; có kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả nên cần áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc Bích là hợp tình hợp lý.
[4] Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Văn Công Vũ và bà Nguyễn Thị Ngọc Bích trình bày vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 và Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007. Ly hôn, bà Bích có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007 và không yêu cầu ông Vũ cấp dưỡng nuôi con; Riêng con chung Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 đã trưởng thành nên không đề cập đến. Hiện nay, con chung Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007 đang do bà Bích trực tiếp nuôi dưỡng; Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của con chung thì nguyện vọng của cháu được ở cùng mẹ là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Mặc khác, ông Vũ có ý kiến nếu ly hôn ông đồng ý giao con chung Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007 cho bà Bích trực tiếp nuôi dưỡng, ông Vũ không cấp dưỡng nuôi con vì vậy nguyện vọng được nuôi dưỡng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007 và không yêu cầu ông Vũ cấp dưỡng nuôi con; Riêng con chung Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 đã trưởng thành nên không đề cập đến của bà Bích là phù hợp.
[5] Về quan hệ tài sản chung: Ông Nguyễn Văn Công Vũ và bà Nguyễn Thị Ngọc Bích trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về nợ chung: Ông Nguyễn Văn Công Vũ và bà Nguyễn Thị Ngọc Bích trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo luật định.
[8] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 63, 147, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn" của bà Nguyễn Thị Ngọc Bích và ông Nguyễn Văn Công Vũ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích được ly hôn với ông Nguyễn Văn Công Vũ.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60, quyển số 01/2008 ngày 28 tháng 5 năm 2008 của UBND phường Hải Châu 2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng)
2. Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích và ông Nguyễn Văn Công Vũ có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 và Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007.
Giao con chung Nguyễn Minh Hiếu, sinh ngày 14/4/2007 bà Nguyễn Thị Ngọc Bích trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn Công Vũ không cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 31/12/2005 đã trưởng thành nên không đề cập đến.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0000471 ngày 19/6/2024.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
