TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 26/4/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Hoan và bà Vũ Thị Thúy.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy – thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 03/02/1983, tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1948 và bà Giang Thị H, sinh năm 1962, đều trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo đã ly hôn vợ và chưa có con. Tiền án: không. Tiền sự: 01. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 16/2021/QĐ-TA ngày 08/02/2021 thời hạn 16 tháng đến ngày 21/4/2022 bị cáo chấp hành xong về địa phương. Nhân thân: Bản án số 161/2012/HSST ngày 27/7/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999. Ngày 23/4/2017 chấp hành xong hình phạt về địa phương, bị cáo đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2023 đến ngày 05/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.
* Người chứng kiến:
Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971 và anh Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1998 cùng trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 30/12/2023, Nguyễn Ngọc S đi bộ từ nhà ra đường T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình thuê xe ôm của người không quen biết đến khu vực cổng trường trung học phổ thông xã T, huyện T để tìm mua ma túy. Tại đây, S mua được 01 gói ma tuý loại Heroin của một người đàn ông, khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ với giá 100.000 đồng. S cầm ma túy vừa mua được ở tay phải và đi đến đoạn đường DH91, khu vực gần cổng trường Trung học phổ thông thì bị Công an xã T đang làm nhiệm vụ tuần tra nghi vấn, yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương và người chứng kiến là bà Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Ngọc D1 cùng trú tại thôn N, xã T. S tự giác giao nộp 01 gói ma túy được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy loại H2 mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, đưa S và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã T làm các thủ tục theo quy định. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của S, không thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 1923/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng kỹ hình sự Công an tỉnh T kết luận: Vật chứng gửi giám định là ma túy; loại Heroin (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,1703 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định trên.
Bản cáo trạng số 43/CT-VKSTT ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Ngọc S và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 35; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 5 đến 7 triệu đồng.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ 0,1703 gam với mục đích sử dụng cho bản thân và bị bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là bà Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Ngọc D1 cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi của bị cáo đã xâm hại quyền quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện. Bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
[4] Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Ngọc S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có bố đẻ là thương binh, được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến chống Mỹ nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính: Ma túy là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã từng bị kết án về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đã được xóa án tích và 01 lần được đưa và cơ sở cai nghiện nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, bị cáo phải chịu mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của mình và cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhỏ, mục đích để sử dụng cho bản thân nên áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt, xử phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng là phù hợp.
[8] Về nguồn gốc số ma tuý: Trong vụ án này, Nguyễn Ngọc S khai mua của một người đàn ông, khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại xã T, huyện T, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không có căn cứ xác minh để xử lý.
[9] Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; khoản 2 Điều 35; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2023.
Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc S số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 0,1200 gam heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1923/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
(Có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Ngọc S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/4/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S tàng trữ trái phép chất ma túy
