|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 53/2024/HSST Ngày 20 - 6 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Khuông Văn Thông và ông Nguyễn Bình Dương;
- Thư ký phiên toà: bà Trịnh Ngọc Mai - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đức Cường - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2023/TLST-HS ngày 22/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HS ngày 07/02/2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Vi Đức Q, sinh năm 1998; Nơi thường trú và nơi ở: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 12/12; Bố: Vi Văn T, sinh năm 1971; Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Vợ: Vi Thị Thùy L, sinh năm 2000 (là bị cáo trong vụ án); bị cáo có 02, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Vi Thị Thùy L, sinh năm 2000; Nơi thường trú và nơi ở: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 12/12; Bố: Vi Thế A, sinh năm 1977; Mẹ: Vi Tường V, sinh năm 1980; Chồng: Vi Đức Q, sinh năm 1998 (là bị cáo trong vụ án); bị cáo có 02, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; Gia đình có 4 chị em, bị cáo là thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Vi Thị Thu H1, sinh năm 2001; Nơi thường trú và nơi ở: 199/23 Nguyễn Đức T1, tổ H, khu F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 12/12; Bố: Vi Thế A, sinh năm 1977; Mẹ: Vi Tường V, sinh năm 1980; Chồng: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990; bị cáo có 2 con, sinh đôi năm 2022; Gia đình có 4 chị em, bị cáo là thứ hai;
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nguyễn Thị Mỹ T3, sinh năm 1994; Nơi thường trú và nơi ở: tổ A, khu phố A, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 12/12; Bố: Nguyễn Triệu Quốc V1, sinh năm 1968;Mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1969; Chồng: Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1992; bị cáo 3 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Vi Thị Thu H1, sinh năm 2003; Nơi thường trú và nơi ở: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 12/12; Bố Vi Thanh H2, sinh năm 1980; Mẹ Hoàng Thị Q1, sinh năm 1983; Chồng, con: chưa có; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ tạm giam từ ngày 28/3/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Lê Thị Thu H3, sinh năm 2001; Nơi thường trú: thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nơi ở: sSố I, đường S, tổ I, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 12/12; Bố: Lê T4, sinh năm 1967;Mẹ: Hoàng Thị T5, sinh năm 1971; Chồng: Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1998; bị cáo có 01 con sinh năm 2022; Gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là thứ ba.
Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Vi Đức Q: Luật sư Trần Văn H4, Văn phòng L4, Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án);
Địa chỉ: số F, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người bào chữa cho bị cáo Vi Thị Thùy L: Luật sư Ong Thị T6, Văn phòng luật sư Vũ Anh H5, Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án);
Địa chỉ: số D, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người bào chữa cho bị cáo Vi Thị Thu H1, sinh năm 2001: Luật sư Ngô Thị T7, Văn phòng luật sư Vũ Anh H5, Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt);
Địa chỉ: số D, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Bị hại:
- Chị Đàm Thị D, sinh năm 1985 (vắng mặt);
Địa chỉ: số B, đường V, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. - Chị Hồ Thị B, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Địa chỉ: tổ B, khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. - Chị Lê Thị V2, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Địa chỉ: số H, tổ A, khu tập thể C, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. - Chị Trần Thị Thùy L1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Nơi thường trú: tổ dân phố A, phường C, quận N, thành phố Hà Nội.
Nơi ở: căn hộ CT3 15A5, chung cư I, số C, Trần Hữu D1, tổ A, phường C, quận N, thành phố Hà Nội. - Anh Nguyễn Thanh T8, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Nơi thường trú: xóm 9, xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Nơi ở: số 16, ngõ 42/133 Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. - Chị Doãn Thị H6, sinh năm 1997 (vắng mặt);
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. - Chị Lương Thị Hồng N, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Nơi thường trú: thôn 4, xã Kim Lan, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Nơi ở: thôn 3, xã Kim Lan, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. - Anh Nguyễn Đình H7, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. - Chị Nguyễn Thị Phương D2, sinh năm 1978 (vắng mặt);
Nơi thường trú: 4.1 C/C 1332 Võ Văn Kiệt, phường 13, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi ở: 415/33 Trần Phú, phường 7, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. - Bùi Hoài N1, sinh năm 1980 (vắng mặt);
Địa chỉ: 5 P, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. - Chị Lương Thị T9, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Nơi thường trú: Thôn 4, xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Nơi ở: 40/3 Phú Lộc, phường 6, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. - Anh Lê Văn C, sinh năm 1999 (vắng mặt);
Nơi thường trú: thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. - Chị Nguyễn Thị Thúy H8, sinh năm 1971 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: số nhà B Kiệt A, đường C, phường T, thành phố H. - Chị Nguyễn Thị Thanh H9, sinh năm 1983 (xin vắng mặt);
Nơi thường trú: số 265 Lạch Tray, Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng.
Nơi ở: số 38, tổ 8, Nam Pháp 1, Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. - Anh Nguyễn Thành L2, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Địa chỉ: thôn B, xã Y, huyện B, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trương Quang C1, sinh năm 1997 (vắng mặt);
Địa chỉ: khu A, S, huyện T, tỉnh Phú Thọ. - Anh Đàm Văn Q2, sinh năm 1998 (vắng mặt);
Địa chỉ: khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. - Ông Vi Văn T, sinh năm 1971 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. - Anh Hà Văn Quốc T10, sinh năm 1996 (xin vắng mặt);
Nơi thường trú: thôn Trà Châu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Nơi ở: số 123, đường Hoài Thanh, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vi Đức Q, sinh năm 1998 và vợ là Vi Thị Thùy L, sinh năm 2000, cùng trú tại: ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương do thấy có nhiều người mua vé máy bay bằng hình thức trực tuyến (online) trên mạng internet nên đã nảy sinh ý định sử dụng mạng Internet để chiếm đoạt tiền của khách hàng có nhu cầu mua vé máy bay online.
Tháng 12/2022, Q thuê Hà Văn Quốc T10, sinh năm 1996, nơi thường trú: thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nơi ở: số A, đường H, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng là nhân viên của Công ty S2, địa chỉ số F, đường N, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng thiết kế Website: htpps://Airbambobooking.com để tạo mã QR Code vé máy bay giả và thuê Nguyễn Hữu L3, sinh năm 1996, trú tại: thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk chạy quảng cáo 9 Fanpage gồm: “Phòng vé máy bay chính hãng”, “Đại Lý Vé Máy Bay Toàn Quốc”, V3 Chính Hãng”, “ViVa Booking – Vé Máy Bay Siêu Rẻ”, “Đại lý vé máy bay nội địa” “Săn Vé Máy Bay Nội Địa Giá Rẻ”, “Phòng vé máy bay trực tuyến” “Săn vé máy bay nội địa giá rẻ”, “Đại lý vé máy bay toàn quốc” để tăng lượng tương tác với những người có nhu cầu tìm mua vé máy bay qua mạng xã hội.
Ngoài ra, Q cài đặt ứng dụng “Fancake V2” là ứng dụng liên kết, quản lý Fanpage trên điện thoại và mua 5 tài khoản ngân hàng gồm: Tài khoản ngân hàng V4 số 2373839404142 và tài khoản ngân hàng M1 số [...] cùng mang tên Đàm Văn Q2; tài khoản ngân hàng A2 số 31031727 và tài khoản ngân hàng H12 số 194704070006056 cùng mang tên Trương Quang C1 và tài khoản ngân hàng N3 số [...] mang tên Nguyễn Đức H10 để sử dụng chiếm đoạt tiền của người mua vé máy bay.
Q2 và L thuê 4 người để quản lý 9 Fanpage như sau:
Vi Thị Thu H1, sinh năm 2001, trú tại: số A đường N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (em ruột L, sau đây gọi là H1 – SN 2001), phân công quản lý 03 Fanpage: “Phòng vé máy bay chính hãng”, “Đại Lý Vé Máy Bay Toàn Quốc”, V3 Chính Hãng”.
Nguyễn Thị Mỹ T3, sinh năm 1994, trú tại tổ A, khu phố A, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương, được phân công quản lý 3 Fanpage: "ViVa B1 – Vé Máy Bay Siêu R”, “Đại lý vé máy bay nội địa”, “Săn Vé Máy Bay Nội Địa Giá Rẻ”.
Lê Thị Thu H3, sinh năm 2001, trú tại số I đường S, tổ I, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương, được phân công quản lý 01 Fanpage : “Phòng vé máy bay trực tuyến”
Vi Thị Thu H1, sinh năm 2003, trú tại ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương (sau đây gọi là H1 – SN 2003) được phân công quản lý 3 Fanpage gồm: “Săn vé máy bay nội địa giá rẻ”, “Đại lý vé máy bay toàn quốc” “Phòng vé máy bay trực tuyến" (Fanpage: Phòng vé máy bay trực tuyến, H1 quản lý từ khi H3 nghỉ).
Hàng ngày, H1 – SN 2001, H1 - SN 2003, T3, H3 vào Fanpage được phân công nêu trên kiểm tra tin nhắn đặt vé, nhắn tin trao đổi người mua đặt vé, khi người mua vé đồng ý thì các đối tượng sẽ thông tin lại cho Q2 và L để thao tác trên Website: https//airbamboobooking.com tạo mã QR Code hoặc mã khách hàng. Các đối tượng yêu cầu khách hàng chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do Q2 quản lý, khi nhận được tiền của khách hàng thì các đối tượng trên sẽ chụp ảnh chuyển tiền vào nhóm Z do vợ chồng Q2, L quản lý để theo dõi và chi trả tiền công (gọi là C2 bill). Trường hợp có khách hàng thắc mắc, nghi ngờ thì các đối tượng liên hệ lấy số điện thoại và thông tin người đặt vé gửi cho L, L sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Hỗ Trợ Săn Vé Toàn Quốc” liên kết với số điện thoại 0392.313.xxx kết bạn Zalo với người đặt vé rồi truy cập W: https"//airbamboobooking.com tạo mã đặt chỗ giả gửi cho người đặt vé để người đặt vé tự vào Website kiểm tra, người đặt vé tin tưởng chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do Q2 cung cấp, sau khi nhận được tiền, L huỷ kết bạn, thu hồi tin nhắn Z và chặn liên lạc chiếm đoạt tiền. Q2, Linh chi trả tiền công hàng tháng với tỷ lệ 10% số tiền chiếm đoạt cho những người làm thuê cho mình; số tiền còn lại Q2, L chiếm đoạt ăn tiêu.
Với thủ đoạn nêu trên từ ngày 01/3/2023 đến ngày 27/3/2023 Q2 và L chiếm đoạt (thể hiện trên tài khoản ngân hàng V4 mang tên Đàm Văn Q2 và ngân hàng A2 mang tên Trương Quang C1 và C2 bill) tổng số tiền 889.010.000 đồng của những người mua vé máy bay, trong đó: T3 giúp sức chiếm đoạt của 88 người tổng số tiền 259.062.000 đồng; H1 – SN 2001 giúp sức chiếm đoạt của 62 người tổng số tiền 296.562.000 đồng; H1 – SN 2003 giúp sức chiếm đoạt 114 người chiếm đoạt 333.386.000 đồng. Từ ngày 28/12/2022 đến ngày 13/01/2023 H3 giúp sức chiếm đoạt của 28 người tổng số tiền 91.131.000 đồng. Tổng số tiền Q2, L chiếm đoạt của những người mua vé máy bay là 980.141.000 đồng. (BL 06-16 tập 1 tố tụng).
Ngày 28/3/2023, khám xét khẩn cấp nơi ở của Vi Đức Q thu giữ 01 màn hình máy tính màu trắng nhãn hiệu HKC loại 29 inch, 01 case máy tính nhãn hiệu MP đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu đen 256GB lắp sim số 0392.313840; 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Vi Đức Q; 01 thẻ ngân hàng A2 mang tên Vi Đức Q; 01 thẻ ngân hàng B2 và 02 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng của của thế giới di động bán cho khách hàng Q số 0979319144 đề ngày 31/12/2022; 01 dây kim loại màu vàng dài 48 cm; 01 dây kim loại màu vàng dài 60 cm; 01 nhẫn kim loại màu vàng mặt đính đá; 01 nhẫn kim loại màu vàng mặt hình chữ nhật; 01 nhẫn kim loại có màu vàng; số tiền 16 triệu đồng; 01 thẻ ngân hàng ACB số tài khoản 28298307 mang tên Vi Thị Thùy L loại thẻ Visa; 01 thẻ ngân hàng M1 số thẻ 4089041068550250 mang tên Vi Thị Thùy L loại thẻ Visa và 01 thẻ ngân hàng W1 mang tên Vi Thị S1, số thẻ 9704570001641556; 01 điện thoại nhãn hiệu samsung màu đen mặt kính bị nứt không bật được nguồn; 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng dài 18 cm và 03 miếng kim loại hình chữ nhật màu vàng có chữ SJC kích thước (1,5x0,2) cm.
Cùng ngày Q, L, Vi Thị Thu H1 – SN 2001, T3, Vi Thị Thu H1 – SN 2003, H3 đầu thú. Q giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng lắp sim số 0979.319.144 và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Vi Đức Q và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH BKS 61K-294.56. Vi Thị Thu H1 - 2001 giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax vỏ màu đen, lắp sim số 0967.803.080; 01 điện thoại Iphone 5S màu trắng lắp sim số 0879.483.774. T3 giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng lắp sim số 0963.848.514. Vi Thị Thu H1 – 2003 giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime lắp sim số 0365.587.954; H3 giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Promax vỏ màu đen lắp sim số 0918.145.130. (BL 1034 tập 4 tố tụng).
Ông Vi Văn T, sinh năm 1971 là bố của Q giao nộp 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 BKS-61K-194.55 là tài sản Q sử dụng tiền chiếm đoạt để mua và số tiền 100 triệu đồng khắc phục hậu quả cho Q, L.
Kết quả giám định: Bản kết luận giám định số 1993/KL-KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trích xuất được dữ liệu trên các điện thoại di động như sau: điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax và Samsung Galaxy của Q; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của L; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S và Iphone 11 Promax màu đen của H1 – SN 2001; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng của T3; điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng – vàng của H1 SN 2003 và điện thoại Iphone 11 Promax màu đen của H3 có dữ liệu tin nhắn SMS; iMessage, dữ liệu tin nhắn từ ứng dụng tiktok; dữ liệu tin nhắn từ ứng dụng Zalo; dữ liệu tin nhắn từ ứng dụng Facebook Messenger liên quan đến hành vi phạm tội. Chi tiết các dữ liệu được thể hiện trong tệp tin “Du lieu” có tổng dung lượng 8,39 GB được lưu trong 01 thiết bị lưu trữ USB. (BL 54-58 tập 1 tố tụng).
Ngày 29/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B có văn bản thông báo truy tìm bị hại bị cáo Q và đồng phạm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B mới làm rõ được 15 bị hại với tổng số tiền bị chiếm đoạt là 264.372.000 đồng (có danh sách kèm theo); số bị hại còn lại chưa chứng minh được. Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng thu thập được ttrong quá trình điều tra.
Về trách nhiệm dân sự: ông Vi Văn T đã bồi thường cho chị Đàm Thị D, sinh năm 1985, trú tại số B, đường V, phường T, thành phố B là người mua vé máy bay bị chiếm đoạt số tiền 10.875.000 đồng, chị D không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì và có đơn xin miễn giảm hình phạt đối với Q.
Về vật chứng: toàn bộ vật chứng của vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định số 70 ngày 29/11/2023 đến Kho vật chứng Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKS- P2 ngày 19/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố Vi Đức Q, Vi Thị Thùy L về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật hình sự. Truy tố Nguyễn Thị Mỹ T3, Vi Thị Thu H1 – sinh năm 2001, Vi Thị Thu H1 – sinh năm 2003 về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 290 Bộ luật hình sự. Truy tố Lê Thị Thu H3 về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo các điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn ở trên.
Tại phiên toà hôm nay, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 290, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự (BLHS) xử phạt bị cáo Vi Đức Q từ 13 năm đến 14 năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/03/2023;
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 290, điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo Vi Thị Thùy L từ 8 năm đến 9 năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 290, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T3, Vi Thị Thu H1 – sinh năm 2003: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T3 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023; xử phạt bị cáo Vi Thị Thu H1, sinh năm 2003 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 290, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo Vi Thị Thu H1, sinh năm 2001 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290, điểm s koản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 BLHS xử phạt Lê Thị Thu Hiền t 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về vật chứng là chiếc ô tô do bị cáo tại cơ quan điều tra khai có sử dụng tiền lừa đảo để mua nên đề nghị tịch thu xung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra kiểm sát viên còn đề nghị giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí.
Luật sư H4 bào chữa cho bị cáo Q trình bày đồng tình về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Tuy nhiên Luật sư cho rằng bị cáo đã tác động để gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả và bồi thường cho các bị hại, bị cáo có bố có nhiều đóng góp tích cực trong phong trào của địa phương được chủ tịch UBND tỉnh B tặng bằng khen, ông bà nội, ngoại của bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến, bị cáo được nhiều người bị hại xin giảm nhẹ hình phạtnên đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Hiện bị cáo có hai con nhỏ nên đề nghị HĐXX cân nhắc áp dụng Điều 54 để xử phạt bị cáo từ 8 đến 12 năm tù. Về xử lý vật chứng cơ bản Luật sư đồng tình với đề nghị của Kiểm sát viên, tuy nhiên đối với xe ô tô thì tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ thể hiện xe này là tiền của bố mẹ bị cáo cho bị cáo để mua như bán chiếc xe INOVA được 150.000.000đ, bà H là mẹ bị cáo rút tiền tiết kiệm 530.000.000đ thể hiện tại các tài liệu của Ngân hàng. Vì vậy có căn cứ khẳng định chiếc xe ô tô này không liên quan đến tiền các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại nên đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe trên cho bị cáo.
Bị cáo Q nhất trí với tranh luận của Luật sư H4 không bổ sung gì thêm.
Luật sư T6 bào chữa cho bị cáo L trình bày đồng tình về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như đề nghị của Kiểm sát viên đề nghị. Tuy nhiên, bị cáo đã cùng gia đình bồi thường toàn bộ cho nhiều bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đề nghị cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Về việc đánh giá vai trò cầm đầu của bị cáo L như bị cáo Q như Kiểm sát viên nhận định là không đúng vì bị cáo L là vợ Q nên có sự liên quan trong mọi hoạt động của Q, L có vai trò sau Q vì L không liên quan, không biết Q thuê tạo W, fanpage mà chỉ hỗ trợ Q trong thực hiện tội phạm khi các bị cáo khác không thể thực hiện được hành vi chiếm đoạt tiền của bị hại nên L giúp sức cho Q. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51, có nhân thân tốt nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù. Về việc tịch thu xe ô tô như Kiểm sát viên đề nghị Luật sư cho rằng trên cơ sở các tài liệu chứng cứ do gia đình bị cáo Q, L cung cấp thể hiện đây là tài sản lớn của gia đình bị cáo do bố me bị cáo bỏ tiền mua. Vì vậy không đồng ý tịch thu như đề nghị của Kiểm sát viên, đề nghị trả xe ô tô này cho bị cáo để có điều kiện khắc phục hậu quả nếu có bị hại yêu cầu.
Bị cáo L không tranh luận gì thêm và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo đề có điều kiện về nuôi con nhỏ.
Luật sư T7 bào chữa cho bị cáo H1 sinh năm 2001 trình bày cơ bản nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo H1 sinh 2001.
Bị cáo H1 sinh năm 2001 không tranh luận gì thêm.
Bị cáo H1 sinh năm 2003 trình bày bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng đề nghị xem xét cho bị cáo, hiện bị cáo còn nhỏ chưa chín chắn, chưa am hiểu pháp luật, trong thời gian tạm giam đã rất ăn năn ân hận, mong cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Bị cáo T3 trình bày gia đình bị cáo rất khó khăn, hiện chồng bỏ đi, có 03 con nhỏ mong HĐXX cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối lỗi đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.
Bị cáo H3 trình bày đề nghị cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Ông T trình bày, gia đình các bị cáo đã đưa tiền cho tôi đại diện đi khắc phục trả cho 11 bị hại và được những người này xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; xe ô tô của bị cáo Q là do vợ chồng ông cho tiền mua và đã cung cấp các hóa đơn, chứng từ cho HĐXX nên đề nghị trả lại xe ô tô cho gia đình ông, ông không nhất trí tịch thu theo đề nghị của kiểm sát viên.
Bà H nhất trí ý kiến của ông T, đề nghị HĐXX cho gia đình xin lại xe ô tô và giảm nhẹ tội cho hai con là Q và L.
Kiểm sát viên đối đáp: về vai trò của các bị cáo trong vụ án được phân thành 02 nhóm, bị cáo Q là chủ mưu, bị cáo L tích cực giúp sức Q trong quản lý những người làm thuê nên có vai trò thứ hai, các bị cáo khác là người thực hành. Đối với đề nghị của Luật sư H4 cho bị cáo Q hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS thì do vụ án có nhiều bị hại, hiện các bị cáo mới chỉ bồi thường được cho 12 bị hại, còn nhiều bị hại khác chưa xác định được nên chưa được bồi thường nên Viện kiểm sát chỉ đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Viện kiểm sát nhất trí đề nghị HĐXX cho bị cáo H1 sinh năm 2003 hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS do bị cáo có ông bà nội được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến. Về chiếc xe ô tô của bị cáo Q thì trong quá trình điều tra, bị cáo Q, bị cáo L đều xác định số tiền 550.000.000₫ do phạm tội mà có, thời gian mua xe là tháng 02/2023 trùng với thời gian phạm tội nên Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
Luật sư H4 tranh luận, tiền mua xe ô tô của gia đình ông T được rút ra từ sổ tiết kiệm của bà H, không có căn cứ đây là tiền phạm tội bị cáo Q đưa cho, số tiền bị cáo thỉnh thoảng đưa cho bố mẹ để nuôi con thì ông T đã nộp lại 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) tại cơ quan thi hành án. Xe được bị cáo mua từ tháng 02/2023, số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại phần lớn là trong tháng 03/2023 nên không có căn cứ để khẳng định tiền mua xe ô tô này do bị cáo phạm tội mà có.
Các bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo Q, bị cáo L xin lỗi các bị hại, các bị cáo đã rất ân hận, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về nuôi con.
Các bị cáo H1 2001, T3, H1 2003 đều mong HĐXX cho hưởng sự khoan hồng của pháp luật, các bị cáo đã tác động để gia đình đưa tiền cho bố bị cáo Q trả tiền cho các bị hại xác định được, các bị cáo chưa được Q trả tiền công, đã rất ân hận.
Bị cáo H3 đề nghị HĐXX cho bị cáo hưởng khoan hồng, bị cáo đã cùng gia đình bị cáo Q khắc phục trả tiền cho các bị hại đã xác định được và nhờ anh trai nộp tiền khắc phục hậu quả là số tiền bị cáo được Q trả công là 9.100.000₫ (Chín triệu một trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: tại phiên toà các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Luật sư bào chữa cho các bị cáo, các bị cáo, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS);
[2]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho các bị cáo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
[3]. Về hành vi của các bị cáo bị truy tố, HĐXX thấy: tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, các tài liệu check bưu, lịch sử tin nhắn zalo, facebook...phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ có sở kết luận: Vi Đức Q, Vi Thị Thùy L thấy có nhiều người có nhu cầu mua vé máy bay online nên đã thuê thiết kế W, thuê F chạy quảng cáo, đồng thời thuê Vi Thị Thu H1, sinh năm 2001, Nguyễn Thị Mỹ T3, Vi Thị Thu H1, sinh năm 2003 và Lê Thị Thu H3 bán vé máy bay giả trên mạng internet để chiếm đoạt tiền mua vé máy bay của khánh hàng.
Với thủ đoạn nêu trên, từ ngày 28/12/2022 đến ngày 27/3/2023 Q, L đã chiếm đoạt được tổng số tiền 980.141.000 đồng của 292 người. Trong đó, T3 giúp sức chiếm đoạt 259.062.000 đồng; H1, SN 2001 giúp sức chiếm đoạt 296.562.000 đồng; H1, SN 2003 giúp sức chiếm đoạt 333.386.000 đồng. Từ ngày 28/12/2022 đến ngày 13/01/2023 H3 giúp sức chiếm đoạt số tiền 91.131.0000 đồng. Các bị cáo đã sử dụng Internet lập các Website và F giả để thực hiện hành vi phạm tội thông qua giao dịch mua bán vé máy bay giả trong lĩnh vực thương mại điện tử để chiếm đoạt tiền của các bị hại.
Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên có đủ cơ sở khẳng định các bị cáo đã phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Hành vi của bị cáo Vi Đức Q, Vi Thị Thùy L phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T3, Vi Thị Thu H1, sinh năm 2001, Vi Thị Thu H1, sinh năm 2003 đã phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 290 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Lê Thị Thu H3 nhiều lần thực hiện chiếm đoạt tiền của các bị hại với số tiền 91.131.000 đồng đã phạm tội theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự. Việc các bị cáo bị truy tố, xét xử ngày hôm nay với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, các hoạt động thương mại điện tử đang ngày càng phát triển hiện nay, xâm phạm hoạt động quản lý thông tin và điện tử của Nhà nước. Vì vậy cần phải lên cho các bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[5]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, HĐXX thấy bị cáo Q là người có vai trò chính, bị cáo là người chủ mưu, thuê T10 và L3 lập các trang Website, F, mua các tài khoản ngân hàng và cùng với L thuê 4 bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nêu trên; bị cáo L là người có vai trò thứ hai trong vụ án, cùng với Q thuê 4 bị cáo còn lại thực hiện các hành vi lừa đảo trên Internet nêu trên; kế tiếp lần lượt đến vai trò của các bị cáo H1, sinh 2003, H1, sinh năm 2001, T3 và cuối cùng là H3 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò người thực hành.
[6]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo Q, L, H1, sinh năm 2001, H1, sinh năm 2003, T3, H3 sau khi phạm tội đã ra đầu thú, khai báo thành khẩn, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L phạm tội khi đang mang thai, bị cáo H1 sinh năm 2001 hiện đang mang thai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo đã tác động để gia đình đưa tiền cho bố bị cáo Q đại diện đem khắc phục toàn bộ thiệt hại cho 11 bị hại cụ thể: chị D 10.875.000 đồng, Chị N 7.328.000 đồng, anh L2 3.150.000 đồng, chị V2 36.000.000 đồng, chị H 15.500.000 đồng, anh H7 11.700.000 đồng, chị L 33.000.000 đồng, anh T8 28.650.000 đồng, chị H6 14.000.000 đồng, chị T9 47.660.000 đồng, anh N1 35.600.000 đồng và các bị hại này đều có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên được các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Q đã tham gia quân ngũ, bị cáo có ông bà nội, ngoại là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến; bị cáo H1 sinh năm 2003 có ông bà nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính 9.100.000 đồng nên các bị cáo này được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Q, L, H1 sinh năm 2001, H1 sinh năm 2003 và T3 đều phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về vật chứng (theo Quyết định chuyển vật chứng số 70/QĐ-VKS-P2 ngày 29/11/2023 của Viện KSND tỉnh B và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/01/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang):
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, số Imei1: 355782152641662, số I: 355782152697649, lắp sim số 0979.319.144 đã được niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu đen mặt kính bị nứt không bật được nguồn đã được niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím số Imeil: 3544665916670, số I: 354466591870188, lắp sim số 0392.313840 đã được niêm phong; 01 điện thoại di động Iphone 5S, vỏ màu trắng số Imei: 356026056152492, lắp sim số 0879.483.774 đã được niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng số Imei: 383901100926841, lắp sim số 0963.848.514 đã được niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu đen số Imeil: 352838110519649, số I: 352838110689996, lắp sim số 0967.803.080 đã được niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng, số Imeil: 352810095925299, số I: 352811095925297, lắp sim số 0365.587.954 đã được niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax vỏ màu đen, số Imeil: 352840111160217, số I: 352840111211010, lắp sim số 0918.145.430 đã được niêm phong là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, có giá trị và là tài sản do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, b khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
- Số tiền 16.000.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư có chữ Công an tỉnh B; 01 phong bì niêm phong bên trong có: 01 dây kim loại màu vàng dài 48 cm, 01 dây kim loại màu vàng dài 60 cm, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng mặt đính đá, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng mặt hình chữ nhật, 01 nhẫn bằng kim loại có màu vàng, 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng dài 18 cm; 03 miếng kim loại hình chữ nhật màu vàng có chữ SJC và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH BKS 61K-294.56 màu sơn xám – đen, số máy KF42E3023108, số khung RLHKF4211NY309442, dung tích xi lanh 156,9cm³, sản xuất năm 2022; 01 màn hình máy tính màu trắng nhãn hiệu HKC loại 29 inch đã qua sử dụng; 01 case máy tính nhãn hiệu MP đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo Vi Đức Q, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.
- 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Vi Đức Q (bị cắt một phần ở góc bên trái); 01 căn cước công dân số [...] mang tên Vi Đức Q; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 61 001040 mang tên Vi Đức Q; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 61 000417 mang tên Vi Đức Q; 01 thẻ ngân hàng A2 số 4221093338228810 mang tên VI DUC QUANG; 01 thẻ ngân hàng B2 số 9704180120096383 mang tên NGUYEN THI HUONG; 01 thẻ ngân hàng A2 đề số TK 282983307 mang tên VI THỊ THUY LINH; 01 thẻ ngân hàng MB số 4089041068550250 mang tên VI THỊ THUY LINH; 01 thẻ ngân hàng W1 SỐ 9704570001641556 mang tên VI THI SAU là các giấy tờ hợp pháp của các bị cáo nên cần trả lại cho các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 BKS-61K-194.55, màu sơn trắng, số máy PY30952371, số khung RN2KF5326KM008362, dung tích xi lanh 2488cm³, năm sản xuất 2019 quá trình xét xử bố mẹ bị cáo Q đã xuất trình được tài liệu chứng cứ rút tiền tiết kiệm thời điểm bị cáo mua xe để cho bị cáo 530.000.000 đồng và tiền bán xe INOVA 150.000.000 đồng để bị cáo Q mua xe ô tô này. Mặt khác theo cáo trạng thì trong khoảng thời gian từ 28/12/2022 đến 13/01/2023 bị cáo H3, bị cáo Q, bị cáo L thực hiện chiếm đoạt được số tiền của bị hại là 91.131.000 đồng là rất nhỏ và các bị cáo đã chi tiêu cá nhân, số tiền chiếm đoạt còn lại được các bị cáo thực hiện trong khoảng thời gian từ 01/3 đến 27/03/2023 là sau khi bị cáo Q mua xe ô tô này. Vì vậy có căn cứ khẳng định số tiền mua xe ô tô trên không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 106 BLTTHS nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Số tiền 100 triệu đồng do ông Vi Đức T11 là bố của bị cáo Q, L nộp thay để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa ông T11, bị cáo Q, bị cáo L đề nghị dùng để bồi thường cho các bị hại còn lại nên cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- Truy thu của bị cáo Lê Thị Thu H3 số tiền 9.100.000 đồng thu lời bất chính đã nộp theo biên lai số 0000982 ngày 20/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
3. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Vi Đức Q phải bồi thường cho chị Hồ Thị B 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Phương D2 2.000.000 đồng, anh Lê Văn C 2.699.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thúy H8 6.024.000 đồng.
4. Về án phí sơ thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: các bị cáo Vi Đức Q, Vi Thị Thùy L, Vi Thị Thu H1 sinh năm 2001, Vi Thị Thu H1 sinh năm 2003, Nguyễn Thị Mỹ T3, Lê Thị Thu H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vi Đức Q phải chịu 1.036.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 53/2024/HSST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 53/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VI Đức Quang cùng đồng phạm Sử dụng Mạng Máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
