Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Hận; Bà Lưu Xông Pha

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đồng Tình- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Bé C, sinh năm 1986; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1949; Con bà Trịnh Thị N (đã chết); vợ: Phạm Anh T, sinh năm 1982(đã ly hôn); con: 01 người sinh năm 2003; anh chị em ruột: 08 người (lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất đã chết); Tiền án: Năm 2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 08 năm tù giam về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 18/02/2012; Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; bị Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 28/10/2017. Tiền sự: Không. Bị tạm giữ trong trường hợp đầu thú ngày 23/3/2024, sau đó khởi tố chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo bị giam có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1998 (có mặt)

1

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ, ngày 13/12/2023, Nguyễn Bé C đi bộ đến cầu R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau rồi rẽ trái vào lộ 03m. Khi đến nhà Phạm Văn N2, C nhìn thấy cửa nhôm nhà N2 bị vỡ kính có che vải nhưng không khóa và cửa mở rộng ra, phía trong nhà có ánh đèn nên C nhìn thấy bên phải cánh cửa nhôm khoảng 02-03m có 01 chiếc xe gắn máy đầu xe quay vào trong nhà. Chính quan sát sung quanh không có ai nên nảy sinh ý định lấy trộm xe máy. Chính đi vào nhà bằng đường cửa nhôm nhìn thấy trên xe có gắn sẵn chìa khóa, C vặn thử chìa khóa thì đèn bật xanh số mo (N) sáng lên nên biết chiếc xe là loại Sirius. Lúc này, C tắt xe gạt chân chống lên dẫn ngược ra cửa theo hướng đi vào, C quay đầu xe về hướng cầu R dẫn xe đến cột điện cách nhà N2 khoảng 10m rồi lên xe đề máy chạy đi theo hướng lên cầu R để chạy xe về nhà. Khi về đến nhà C đậu xe ở lộ trước phần mộ của ông bà nội Chính rồi lên võng trong phần mộ nằm đến 05 giờ sáng C mở cốp xe ra thấy có giấy mua bán xe và người mua tên Phạm Văn N2 và giấy chứng nhận đăng ký xe. C điều khiển xe chạy đến tiệm C2 gặp Nguyễn Hải Đ (chủ tiệm) cầm chiếc xe với giá 5.000.000 đồng và C ký tên trong hợp đồng ghi N2-Phạm Văn N2 để không cho Đ biết là xe do C lấy trộm. Sau khi nhận được tiền xong C thuê xe ôm chở đi Rau D chơi.

Đến ngày 23/3/2024, nhận thấy hành vi trộm xe của mình là vi phạm pháp luật C ăn năn hối cải nên đến Cơ quan điều tra Công an huyện T đầu thú xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

*/ Vật chứng vụ án: Ngày 19/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu của Nguyễn Hải Đ: 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu trắng-đen, số máy 5C63.763787, số khung 630DY63740, biển kiểm soát 60C2-208.55, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 016906 đã trả lại cho bị hại Phạm Văn N2.

Ngoài ra, quá trình điều tra còn thu giữ 01 hợp đồng cầm cố mang tên Phạm Văn N2 (đây là hợp đồng cầm xe vào ngày 15/12/2023) và 03 tấm ảnh của đối tượng nghi vấn ban đầu, hình ảnh xác định Nguyễn Bé C đến cầm xe do Nguyễn Hải Đ chủ tiệm cầm xe cung cấp. Do đây là tài liệu chứng minh hành vi của C nên lưu giữ trong hồ sợ.

*/ Kết luận định giá số 02/KL-ĐGTS ngày 07/01/2024 của Hội đồng định giá thuộc Ủy ban nhân dân huyện T kết luận: 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, số máy 5C63-763787, số khung 630DY763740, biển kiểm soát 60C2-208.55, giấy chứng nhận đăng ký xe mo tô, xe máy số 016906 (đã qua sử dụng) trị giá 7.000.000 đồng.

*/Tại Cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố Nguyễn Bé C về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1

2

Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, không oan sai; các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là do bị cáo tự nguyện khai; không ai ép cung, móm cung gì đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Hải Đ yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 5.000.000 đồng

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo là giữ nguyên Cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, phạt bị cáo C từ 09 tháng đến 15 tháng tù giam; về xử lý vật chứng: Tài sản chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Hải Đ số tiền 5.000.000 đồng.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận;

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa và thảo luận nghị án của HĐXX cho thấy đã có đủ cơ sở để kết luận diễn biến nội dung vụ án như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời mô tả và truy tố. Bị cáo Nguyễn Bé C đã thừa nhận có hành vi lén lúc trộm chiếc xe máy của anh Phạm Văn N2 tại nhà anh N2 vào rạng sáng ngày 13/12/2023 thuộc ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau. Sau khi chiếm đọt được tài sản bị cáo đem đến tiệm cầm xe Tấn P cầm chiếc xe máy vừa trộm được với giá 5.000.000 đồng, số tiền trên một mình bị cáo đã chi xài cá nhận. Theo kết luận định giá số 02 ngày 07/01/2024 của Hội đồng định giá thuộc Ủy ban nhân dân huyện T kết luận: chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu trắng – đen, biển số 60C2-208.55 (đã qua sử dụng), trị giá 7.000.000 đồng. Như vậy đã có đầy đủ cơ sở

3

quy kết bị cáo Nguyễn Bé C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Bé C là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản tính tham lam thích hưởng lợi tài sản của người khác, bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất tình hình an ninh trật tự xã hội nói chung, tình hình an ninh trật tự xã hội ở địa phương nói riêng. Bản thân bị cáo có nhân thấn xấu, có 02 tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không biết nhìn nhận, có ý thức sửa chữa sai lầm để hoàn lương thành người công dân tốt mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục riêng cho bản thân bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thật thà khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại, bị hại có đơn bải nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Khi biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật bị cáo ra đầu thú để được hưởng khoan hồng của pháp luật nên xem đây là tình tiết làm căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Đối với Nguyễn Hải Đ (chủ tiệm cầm xe C2) có nhận cầm xe của Nguyễn Bé C 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu trắng-đen, biển số 60C2-208.55. Trong quá trình điều tra bị cáo không nói cho anh Đ biết tài sản trên do bị cáo trộm của người khác mà có. Do đó không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh Đ.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 hợp đồng cầm cố mang tên Phạm Văn N2 (đây là hợp đồng cầm xe vào ngày 15/12/2023) và 03 tấm ảnh của đối tượng nghi vấn ban đầu, hình ảnh xác định Nguyễn Bé C đến cầm xe do Nguyễn Hải Đ chủ tiệm cầm xe cung cấp. Do đây là tài liệu chứng minh hành vi của bị cáo nên lưu giữ trong hồ sợ vụ án.

[6]Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã thu hồi và trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Đối với số tiền bị cáo đã cầm cố tài sản do trộm được mà có cho anh Nguyễn Hải Đ (chủ tiệm cầm xe Tấn P), số tiền 5.000.000 đồng. Anh Đ có yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Xét thấy bị cáo

4

thực hiện hành vi trộm cấp tài sản cầm cố cho anh Đ để lấy 5.000.000 đồng sử dụng cá nhân nên buộc bị cáo phải trả lại cho ông Đ 5.000.000 đồng.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự,

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn B Chính phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bé C 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ ngày 23/3/2024.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 hợp đồng cầm cố mang tên Phạm Văn N2; 03 tấm ảnh Nguyễn Bé C.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bột luật hình sự; Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Hải Đ số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm khoản lãi tương ứng với số tiền chưa thi hành án với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Bé C phải nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (chưa nộp), án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;

5

thời hiệu thi hành án được thựợc hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau (1b);
  • - VKSND tỉnh Cà Mau (1b);
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời (1b);
  • - CAND huyện Trần Văn Thời (1b);
  • - THADS huyện Trần Văn Thời (1b);
  • - Bị cáo; bị hại; Người liên quan (1b);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bé Chính trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger