|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ____*** |
Bản án số: 53/2024/HSST
Ngày: 20/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mầu Thị Hải Vân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đắc Hà; Bà Dương Thị Kim Lan
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ân - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Mê Linh - Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên toà: ông Đàm Duy Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
1.Họ và tên: PHẠM VĂN CHUNG, sinh năm 1955; HKTT: thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện nay: thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội; số CMND, CCCD: [...]; Dân tộc: kinh; Bảo vệ: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/10; Con ông: Phạm Văn D (đã chết); và bà: Tạ Thị K (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; con: có 04 con; Tiền án: có 3 tiền án: Ngày 10/02/2003, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt 12 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Bị can đã chấp hành xong các quyết định của bản án); Ngày 30/9/2004, Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Bị can đã chấp hành xong các quyết định của bản án); Ngày 22/8/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 17 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 3, 5 Điều 194; điểm g Điều 48 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm) đến ngày 05/02/2021 ra trại về địa phương (Bị can đã chấp hành xong các quyết định của bản án chưa được được xoá án tích). Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 15/12/2023; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an H3(có mặt tại phiên tòa).
D1 chỉ bản số 496 ngày 23/12/2023 do Công an huyện M lập.
2.Họ và tên: HOÀNG VĂN G, sinh năm 1955; HKTT: thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện nay: thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội; số CMND, CCCD: [...]; Dân tộc: kinh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/10; Con ông: Hoàng Văn H (đã chết); và bà: Kiều Thị Đ (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1970; con: có 03 con; Tiền án: không; Tiền sự: có 2 tiền sự. + Ngày 19/5/2020, Công an huyện M xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi: Đánh nhau (chưa nộp phạt). Ngày 28/5/2020, Công an huyện M xử phạt hành chính 3.500.000 đồng về hành vi: Cố ý làm hư hỏng tài sản (chưa nộp phạt). Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 15/12/2023; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an H3. (có mặt tại phiên tòa).
D1 chỉ bản số 494 ngày 23/12/2023 do Công an huyện M lập.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Quang H1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Chỗ ở hiện nay: thôn N, xã C, huyện M, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 15/12/2023, Công an xã L phát hiện, bắt quả tang Hoàng Văn G1 đang có hành vi bán trái phép 0,180 gam ma túy loại Heroine tại nhà ở thôn B, xã L, huyện M. Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày Công an xã L tiếp tục phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn C đang có hành vi bán trái phép 0,280 gam ma túy loại Heroine tại thôn Đ 23b, xã T, huyện M. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng liên quan và đưa về trụ sở để điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, C và G1 khai nhận: Khoảng đầu tháng 12/2023, Phạm Văn C sử dụng điện thoại số 0338.246.xxx của mình gọi vào điện thoại số 0396.662.xxx của một người đàn ông tên C1 ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc hỏi mua giá 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroine. C1 đồng ý và hẹn đến thị trấn H, huyện B, Vĩnh Phúc để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, C đến điểm hẹn thì gặp một nam thanh niên (không rõ tên, tuổi và địa chỉ) đưa cho 01 gói ma túy loại H2 và C đưa số tiền 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C đi về nhà bạn là Hoàng Văn G1 (sinh năm 1955) ở cùng thôn B, xã L. Tại đây, C và G1 đã chia gói ma túy vừa mua được thành 10 gói nhỏ (04 gói giấy được bọc ni lông màu hồng, 06 gói giấy được bọc ni lông màu xanh). C đưa cho G1 04 gói bọc ni lông màu hồng và bảo G1 bán với giá 200.000 đồng/ 01 gói, lợi nhuận được bao nhiêu sẽ chia đôi. 06 gói bọc ni lông màu xanh C mang về nhà sử dụng hết 02 gói, còn 04 gói C cho vào túi ni lông cất giấu trên người mục đích để bán kiếm lời.
Vụ thứ nhất: Chiều ngày 14/12/2023, khi G1 đang ở nhà thì nhận được cuộc điện thoại hỏi mua 02 gói ma túy Heroine. Cả hai cùng thỏa thuận giá 200.000đồng/01 gói và hẹn giao dịch tại nhà G1. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 15/12/2023 khi G1 đang nhận 400.000 đồng và chuẩn bị đưa 02 gói ma túy cho người thanh niên thì bị Công an xã L phát hiện, bắt quả tang, tuy nhiên quá trình bắt giữ đối tượng mua ma túy đã chạy thoát.
Vụ thứ 2: Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, C đang làm bảo vệ tại Công ty T2 ở thành phố P, Vĩnh Phúc thì nhận được điện thoại của một người tự xưng tên N (ở thôn X, xã L) sử dụng điện thoại số 0568.001.xxx gọi vào điện thoại số 0338.246.xxx của C hỏi mua 01 gói ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). C đồng ý và hẹn Nam hết giờ làm đến khu vực quán phở “Chiến Đ1” thuộc thôn Đ 23b, xã T để bán ma túy. Sau khi tan ca, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đỏ - đen, số khung: 16S2005793, số máy: 6S208Y005791, Biển kiểm soát 30Z3 - 2081 đi đến quán phở “Chiến Đ1”. Tại đây, người thanh niên tên N đưa cho C 300.000 đồng. Khi C lấy 01 gói ma túy Heroine chuẩn bị đưa cho N thì bị Công an xã L phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang còn nam thanh niên mua ma túy đã bỏ chạy thoát.
Tại Cơ quan điều tra Phạm Văn C và Hoàng Văn G1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bản thân C có 03 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm.
Vật chứng vụ án: Quá trình bắt giữ các đối tượng và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, đồ vật, tài sản liên quan gồm:
- Thu giữ của Hoàng Văn G1: 01 túi ni lông kích thước (6x9,5)cm bên trong túi nilông có 04 gói giấy được bọc bên ngoài ni lông màu hồng, trong các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy loại Heroine; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A04 màu xanh - đen, số IMEI 1: 351040498693853, số IMEI 2: 3518999518693858, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0328.263.256 và 0342.040.003; Số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
- Thu giữ của Phạm Văn C: 01 túi ni lông kích thước (6x9,5)cm bên trong túi nilông có 04 gói giấy được bọc bên ngoài ni lông màu xanh, trong các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy loại Heroine; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A16 màu xanh - đen, số IMEI 1: 864591059765613, số IMEI 2: 864591039765605, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0338.246.120; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đỏ - đen, số khung: 16S2005793, số máy: 6S208Y005791, Biển kiểm soát: 30Z3 – 2081; Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Ngày 15/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn G1 và Phạm Văn C tại thôn B, xã L, huyện M, kết quả: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì khác liên quan đến vụ án.
Tại Kết luận giám định số 8260/KL- KTHS ngày 22/12/2023 của phòng K1 Công an thành phố H3, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 04 gói giấy (để trong 01 túi ni lông màu hồng thu giữ của Hoàng Văn G1 ký hiệu là A1) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,180 gam.
Tại Kết luận giám định số 8261/KL- KTHS ngày 22/12/2023 của phòng K1 Công an thành phố H3, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 04 gói giấy (để trong 01 túi ni lôngmàu xanh thu giữ của Phạm Văn C) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,280 gam.
Quá trình giám định, Cơ quan giám định đã lấy mẫu trong phong bì ký hiệu A1 là 0,023 gam làm mẫu giám định, phần còn lại là 0,157 gam ma túy loại Heroine; mẫu trong phong bì thư là 0,019 gam làm mẫu giám định, phần còn lại là 0,261 gam ma túy loại Heroine hoàn trả Cơ quan điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người sử dụng số điện thoại 0921.994.xxx gọi Giáp để mua ma túy, quá trình điều tra xác định đăng ký mang tên Nguyễn Văn B (sinh năm 1968; trú tại xóm F, thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận). Ông B cho biết không sử dụng số điện thoại này, hiện tại ai quản lý ông không biết. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với người tên N sử dụng số điện thoại 0568.001.xxx để mua ma túy của C, xác định đăng ký chủ sở hữu mang tên Nguyễn Thị Long V (sinh năm 1975; trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ). Bà V cho biết không sử dụng số điện thoại này, hiện tại ai quản lý bà không biết. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho C tên C1 sử dụng số điện thoại 0396.662.xxx, quá trình điều tra xác định đăng ký chủ sở hữu mang tên Lê Văn T1 (sinh năm 1981; ở thôn T, xã T, huyện M). Anh T1 cho biết, anh không sử dụng số điện thoại này và không bán ma túy cho C. Căn cứ vào các tài liệu thu thập được không có sơ sở xác định Lê Văn T1 là đối tượng bán ma túy cho C.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đỏ - đen, số khung 16S2005793, số máy 6S208Y005791, BKS 30Z3-2081 thu giữ của Phạm Văn C, quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 12/2023 Phạm Văn C có đến cửa hàng mua bán xe máy cũ của anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1975. Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội mua chiếc xe máy trên với giá 3.300.000đ (Ba triệu, ba trăm nghìn đồng), việc mua bán chỉ giao xe và đăng ký không viết giấy tờ mua bán gì. Kết quả tra cứu chủ sở hữu đăng ký theo BKS được xác định là anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1974. Địa chỉ: thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội là chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đỏ - đen, số khung 16S2005793, số máy 6S208Y005791, BKS 30Z3-2081. Anh P1 khai nhận đã bán chiếc xe máy cho anh Nguyễn Văn Đ2 với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng) việc mua bán chỉ giao xe và đăng ký không viết giấy tờ gì.
Tại cơ quan CSĐT - Công an huyện M, Phạm Văn C và Hoàng Văn G1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu ở trên.
Ngày 04/4/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện M đã ban hành bản kết luận điều tra số 153/KLĐT-ĐCSMT đề nghị VKSND huyện Mê Linh truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và Hoàng Văn G1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VSKML ngày 22/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và Hoàng Văn G1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo: giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C và Hoàng Văn G1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng Điểm b, q Khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn C từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
Áp dụng Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hoàng Văn G1 từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,418 gam ma túy heroine. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) thu giữ của Phạm Văn C và Hoàng Văn G1; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A16 màu xanh - đen, số IMEI 1: 864591059765613, số IMEI 2: 864591039765605, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0338.246.120; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đỏ - đen, số khung: 16S2005793, số máy: 6S208Y005791, Biển kiểm soát: 30Z3-2081 thu giữ của Phạm Văn C; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A04 màu xanh - đen, số IMEI 1: 351040498693853, số IMEI 2: 3518999518693858, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0328.263.256 và 0342.040.003 thu giữ của Hoàng Văn G1.
Ngoài ra các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn C và Hoàng Văn G1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Văn C và Hoàng Văn G1 khai nhận có hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với ý kiến phát biểu, lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nội dung vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 15/12/2023, tại thôn X, xã L, huyện M, Hoàng Văn G1 có hành vi bán 02 gói ma túy loại Heroine với giá 400.000 đồng cho một nam thanh niên thì bị Công an xã L phát hiện bắt quả tang, tuy nhiên quá trình bắt giữ đối tượng nam thanh niên này đã chạy thoát. Vật chứng thu giữ của G1 04 gói Heroine cân nặng 0,180gam mục đích để bán kiếm lời.
Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày Công an xã L tiếp tục phát hiện bắt quả tang tại thôn Đ 23b, xã T, huyện M, Phạm Văn C đang bán 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng cho một đối tượng tên N (không rõ tên tuổi địa chỉ). Vật chứng thu giữ của C 04 gói Heroine cân nặng 0,280gam. Quá trình điều tra xác định, số ma túy loại Heroin Hoàng Văn G1 bán là do Phạm Văn C cung cấp với mục đích bán được lợi nhuận sẽ chia nhau, do đó hành vi của Phạm Văn C đã phạm tội nhiều lần.
[3]. Hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Phạm Văn C và Hoàng Văn G1 xét thấy là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc, đặc biệt đây cũng là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và phát sinh các căn bệnh thế kỷ như HIV, AIDS. Bởi vậy cần đưa ra xét xử nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4]. Về nhân thân và tiền án, tiền sự của bị cáo: Bị cáo Phạm Văn C có nhân rất xấu đã có 03 tiền án: Ngày 10/02/2003, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt 12 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Bị can đã chấp hành xong các quyết định của bản án). Ngày 30/9/2004, Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án). Ngày 22/8/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 17 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 3, 5 Điều 194; điểm g Điều 48 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm) đến ngày 05/02/2021 ra trại về địa phương. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án, chưa được được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện cho bản thân mà tiếp tục vi phạm pháp luật, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Bị cáo Hoàng Văn G1 có nhân thân xấu đã có 02 tiền sự, Ngày 19/5/2020, Công an huyện M xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi: Đánh nhau (chưa nộp phạt). Ngày 28/5/2020, Công an huyện M xử phạt hành chính 3.500.000 đồng về hành vi: Cố ý làm hư hỏng tài sản (chưa nộp phạt). Bị cáo là người hiểu biết pháp luật nhưng không nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật, coi thường pháp luật.
[5]. Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: không
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Xét thấy, cần bắt các bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[6].Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đồng...” Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, mua ma túy về bán và sử dụng, bị cáo không có việc làm không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần phạt bị cáo một khoản tiền nhất định sung quỹ nhà nước.
[7]. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,418 gam ma túy heroine. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) thu giữ của Phạm Văn C và Hoàng Văn G1; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A16 màu xanh - đen, số IMEI 1: 864591059765613, số IMEI 2: 864591039765605, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0338.246.120; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đỏ - đen, số khung: 16S2005793, số máy: 6S208Y005791, Biển kiểm soát: 30Z3 – 2081 thu giữ của Phạm Văn C; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A04 màu xanh - đen, số IMEI 1: 351040498693853, số IMEI 2: 3518999518693858, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0328.263.256 và 0342.040.003 thu giữ của Hoàng Văn G1.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn C, Hoàng Văn G1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm b, q khoản 2 điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
- Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hoàng Văn G1 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,418 gam ma túy heroine. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) thu giữ của Phạm Văn C và Hoàng Văn G1; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A16 màu xanh - đen, số IMEI 1: 864591059765613, số IMEI 2: 864591039765605, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0338.246.120; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đỏ - đen, số khung: 16S2005793, số máy: 6S208Y005791, Biển kiểm soát: 30Z3 – 2081 thu giữ của Phạm Văn C; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A04 màu xanh - đen, số IMEI 1: 351040498693853, số IMEI 2: 3518999518693858, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0328.263.256 và 0342.040.003 thu giữ của Hoàng Văn G1.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí.
Buộc bị cáo Phạm Văn C và Hoàng Văn G1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mầu Thị Hải Vân |
Bản án số 53/2024/HSST ngày 20/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BC C phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
