Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUỶ NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 53/2024/DS-ST

Ngày 19-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Doãn Văn Sáng

Ông Bùi Đình Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (viết tắt là S); địa chỉ A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn H, địa chỉ: T, Khu B, Lô G, Lê Hồng P, Đ, quận N, thành phố Hải Phòng - Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP Đ1 (Văn bản ủy quyền số 19986/2023/UQ-SeABank ngày 21/12/2023). Ông Phạm Văn H có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y, đều trú tại: Thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ông Nguyễn Trung H1 có mặt, bà Vũ Hải Y vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Phạm Văn C, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị M, sinh năm 1971, đều trú tại: Thôn B (trước thôn D), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M đều vắng mặt.

+ Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn Đ – Chủ tịch. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 do người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 cho ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y vay vốn theo các hợp đồng tín dụng như sau:

1. Hợp đồng tín dụng số REF2205300171/HDTD/HP6-NTH ngày 23/02/2022 với nội dung: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 cho ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y vay số tiền 1.050.000.000 đồng; mục đích vay vốn: Vay mua bất động sản; thời hạn vay 420 tháng, từ ngày 01/03/2022 đến ngày 01/3/2057; lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: Tại thời điểm giải ngân là 8,49%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời hạn trên, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ vào ngày làm việc đầu tiên của mỗi quý khi có sự thay đổi của lãi suất cơ sở do Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 ban hành từng thời kỳ. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 01/3/2023, điều chỉnh sau đó vào ngày làm việc đầu tiên của quý liền kề tiếp theo. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng (=), lãi suất cơ sở của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng với (+) biên độ 3,49%/năm.

Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Lãi suất chậm trả áp dụng với lãi suất chậm trả: Bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả (trên số tiền lãi trong hạn chậm trả).

Phương thức trả nợ gốc và tiền lãi theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 10, kỳ trả nợ gốc, lãi đầu tiên vào ngày 10/4/2022. Số tiền nợ gốc hàng tháng phải trả là 2.500.000 đồng, số tiền nợ lãi hàng tháng phải trả tính trên tổng số nợ gốc còn lại.

Phương thức giải ngân: Chuyển khoản.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y đã trả cho Ngân hàng được:

  • - Số nợ gốc: 44.399.120 đồng
  • - Số nợ lãi trong hạn: 151.242.958 đồng.
  • - Số nợ lãi quá hạn: 75.084 đồng.
  • - Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng.
  • Tổng cộng: 195.717.162 đồng.

Thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ: Ngày 01/9/2023.

Hiện nay, tính đến ngày 19/9/2024 ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y còn nợ như sau:

  • - Số nợ gốc: 1.005.600.880 đồng.
  • - Số nợ lãi trong hạn: 136.637.703 đồng.
  • - Số nợ lãi quá hạn: 2.847.847 đồng.
  • - Số nợ lãi phạt chậm trả: 7.283.925 đồng.
  • Tổng cộng: 1.152.370.355 đồng.

2. Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 17/02/2022, loại thẻ BRG-Elite, mã khách hàng đại diện/số hợp đồng 15896959:

Ngày 17 tháng 02 năm 2022 ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y ký đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 17/02/2022 kèm theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1, hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, không có thời hạn, hạn mức tín dụng được cấp thông qua hình thức phát hành thẻ cho chủ thẻ để thực hiện các giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ; mục đích sử dụng tiêu dùng; phí theo quy định về biểu phí, lãi suất, số lượng thẻ và hạn mức giao dịch đối với thẻ do Ngân hàng Đ1 phát hành. Ngày 21 tháng 02 năm 2022 Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 cấp thẻ tín dụng quốc tế cho ông Nguyễn Trung H1 là chủ thẻ chính và bà Vũ Hải Y là chủ thẻ phụ.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y được sử dụng tiêu dùng trong tháng. Hàng tháng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 sẽ lập bảng thông báo giao dịch thẻ tín dụng liệt kê chi tiết các giao dịch thẻ, phí, lãi phát sinh trong kỳ giao dịch lần trước, tổng số dư nợ, số tiền đã thanh toán, số dư nợ đầu kỳ, số dư nợ cuối kỳ, số tiền thanh toán tối thiểu và ngày thanh toán số tiền thanh toán tối thiểu. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 sẽ gửi thông báo giao dịch thẻ tín dụng qua số điện thoại bằng tin nhắn cho ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y.

Nếu quá thời hạn theo thông báo mà ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 đã thông báo thì ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y sẽ phải chịu lãi, phí của số tiền đã sử dụng hoặc đã rút. Lãi suất thẻ được tính trên số tiền chi tiêu thực tế của

khách hàng (kèm theo bảng lãi suất chi tiết của thẻ). Chủ sử dụng thẻ phải chịu các loại phí, khách hàng vi phạm phí nào thì phải chịu phí đấy (sẽ kèm theo biểu phí và bảng sao kê kèm theo).

Do ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 15 tháng 9 năm 2023 Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 đã chuyển khoản vay của ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y chuyển sang nợ quá hạn đồng thời chấm dứt việc sử dụng thẻ của ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y và thu hồi toàn bộ khoản nợ của thẻ tín dụng chưa thanh toán.

Sau khi khách hàng vi phạm việc thanh toán thẻ tín dụng, ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y chưa thanh toán trả tiếp bất kỳ số tiền nào.

Tính đến ngày 19 tháng 9 năm 2024 ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y còn nợ Ngân hàng Đ1 số tiền nợ gốc là 26.154.628 đồng, số tiền nợ lãi trong hạn: 0 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn: 9.722.670; số tiền phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng là 35.877.298 đồng.

Hiện nay, tính đến ngày 19/9/2024 ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y còn nợ cho cả hai khoản vay như sau:

  • - Số tiền nợ gốc: 1.031.755.508 đồng.
  • - Số tiền nợ lãi trong hạn: 136.637.703 đồng.
  • - Số tiền nợ lãi quá hạn: 12.570.517 đồng.
  • - Số tiền phạt chậm trả lãi: 7.283.925 đồng.
  • Tổng cộng: 1.188.247.653 đồng.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là: Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng đất 304,2 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ tại: Thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 777670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H/01861 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/10/2008 cho ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 và vợ là bà Vũ Hải Y ngày 12/01/2022.

Tài sản được ký kết Hợp đồng thế chấp số REF2205300171/HDTC/HP6-NTH ngày 23/02/2022, số công chứng 834 quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản đảm bảo cho khoản vay.

Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/5/2024 thể hiện: Khi ghép cạnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tức là theo kích thước tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì số liệu tính toán là 349,3 m² mà không phải 304,2 m². Ngoài ra, khi đo đạc thì hiện trạng sử dụng thực tế đối với diện tích đất nêu trên là 408,1 m², trong đó: Diện tích ghép cạnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 349,3 m², diện tích thuộc đất giao thông là 53,8 m², diện tích thuộc đất giáp đất hộ ông T là: 5,0 m². Do trước đây do đo đạc thủ công, tính toán sai nên số liệu không chính xác nên đề nghị Toà án phát mại diện tích quyền sử dụng đất theo hiện trạng là 354,3 m².

Nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 yêu cầu Toà án giải quyết:

- Buộc ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 ngay sau khi Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 19/9/2024: 1.188.247.653 đồng, cụ thể:

  • + Hợp đồng tín dụng số REF2205300171/HDTD/HP6-NTH ngày 23/02/2022:
  • - Số nợ gốc: 1.005.600.880 đồng.
  • - Số nợ lãi trong hạn: 136.637.703 đồng.
  • - Số nợ lãi quá hạn: 2.847.847 đồng.
  • - Số nợ lãi phạt chậm trả: 7.283.925 đồng.
  • Tổng cộng: 1.152.370.355 đồng.
  • + Thẻ tín dụng: Số tiền nợ gốc là 26.154.628 đồng, số tiền nợ lãi trong hạn: 0 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn: 9.722.670; số tiền phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng là 35.877.298 đồng.

- Kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y còn phải chịu số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

- Trong trường hợp ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1 đề nghị Toà án tuyên Ngân hàng TMCP Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể: Quyền sử dụng đất ở theo thực tế hiện trạng đang sử dụng là 354,3 m² và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ tại: Thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 777670, số vào sổ cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất: H/01861 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/10/2008 cho ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 và vợ là bà Vũ Hải Y ngày 12/01/2022 diện tích đất thế chấp là 304,2 m²).

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.

Riêng đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với tài sản thế chấp nêu trên giữa ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y với ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M là việc giữa ông H1, bà Y với ông C, bà M, Ngân hàng không liên quan và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y phải chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Theo bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn - ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y trình bày:

Ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y thừa nhận khoản nợ nêu trên như đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 đã trình bày. Ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y đồng ý với yêu cầu khởi kiện nêu trên của Ngân hàng TMCP Đ1. Ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y không có tranh chấp gì với ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ tại: Thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 777670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H/01861 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/10/2008 cho ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 và vợ là bà Vũ Hải Y ngày 12/01/2022. Vợ chồng ông C, bà M không liên hệ với vợ chồng ông H1, bà Y về việc giải quyết diện tích đất nêu trên. Vợ chồng ông H1, bà Y đã nhận chuyển nhượng hợp pháp diện tích đất này. Vợ chồng ông H1, bà Y đang cho ông C, bà M ở nhờ.

Ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/5/2024 thể hiện: Khi ghép cạnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tức là theo kích thước tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì số liệu tính toán là 349,3 m² mà không phải 304,2 m². Ngoài ra, khi đo đạc thì hiện trạng sử dụng thực tế đối với diện tích đất nêu trên là 408,1 m², trong đó: Diện tích ghép cạnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 349,3 m², diện tích thuộc đất giao thông là 53,8 m², diện tích thuộc đất giáp đất hộ ông T là: 5,0 m². Do trước đây do đo đạc thủ công, tính toán sai nên số liệu không chính xác nên ông H1, bà Y đồng ý để Toà án phát mại diện tích quyền sử dụng đất theo hiện trạng là 354,3 m².

Về chi phi tố tụng gồm tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Chi phí định giá tài sản do ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y đã nộp tạm ứng, ông H1 bà Y tự nguyện xin chịu và không đề nghị Toà án tuyên trong bản án. Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, ông H1 bà Y xin tự nguyện chịu toàn bộ.

Về án phí: Ông H1, bà Y xin chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.

Theo biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M trình bày, cụ thể:

Vợ chồng ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M hiện nay đang sinh sống trên diện tích thửa đất số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Diện tích đất này và tài sản trên đất là của vợ chồng ông C, bà M, không liên quan đến ai khác. Vợ chồng ông bà không chuyển nhượng diện tích đất và toàn bộ tài sản trên đất nêu trên cho ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y. Vợ chồng ông bà xác định chữ ký, chữ viết trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 23/9/2020, số công chứng 2387 quyển số 03.TP/CC-SCC/HĐGD là của vợ chồng ông bà. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng này, ông bà không đọc nội dung, chỉ biết là ký để con gái ông bà là Phạm Thị M1 làm hồ sơ để đi làm. Nay, Ngân hàng TMCP Đ1 buộc ông Nguyễn Trung H1 và bà Vỹ Hải Y1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền vay nợ. Trường hợp ông H1, bà Y1 không trả được nợ, Ngân hàng đề nghị kê biên phát mại diện tích đất và tài sản trên thửa đất nêu trên thì vợ chồng ông bà không đồng ý. Thửa đất này từ trước đến nay không tranh chấp với các hộ giáp ranh, liền kề, không nhận chuyển nhượng của ai. Ông C bà M không làm đơn yêu cầu độc lập đối với ông H1, bà Y1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ thôn D, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng và không yêu cầu huỷ phần đính chính trang thứ tư trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/01/2022 về việc chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho vợ chồng ông H1, bà Y1. Ông bà sẽ tự giải quyết thương lượng về mặt tình cảm với ông H1, bà Y1. Trường hợp không thương lượng được ông bà sẽ làm đơn gửi cơ quan Công an để giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Uỷ ban nhân xã L có ý kiến như sau:

Phía trước diện tích đất tại thửa số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 777670, sso vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H/01861

do Uỷ ban nhân huyện T cấp ngày 08/10/2008 cho ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M2, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y ngày 12/01/2022 là phần diện tích đất thuộc giao thông 53,8 m² do Ủy ban nhân dân xã L, huyện T quản lý. Trên phần đất 53,8 m² (tiếp giáp với mốc giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 4-5) thì gia đình ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M có xây dựng bờ tường bao, cổng và một phần sân. Diện tích đất 53,8 m² nêu trên là đất hành lang giao thông, hộ ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M tự ý sử dụng. Ủy ban nhân dân xã L không giao đất, không cho thuê, cho mượn đối với cá nhân, tổ chức nào. Diện tích tích đất 53,8 m² thuộc hành lang giao thông không được chuyển nhượng, tặng cho hay để thừa kế. Khi nhà nước thu hồi đất hoặc thực hiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng đối với vị trí trên thì các công trình, diện tích đất trên sẽ được bàn giao lại cho UBND xã.

Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn anh Nguyễn Trung H1 đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn là chị Vũ Hải Y và toàn bộ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về điều luật áp dụng: Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 118, 119, 274, 280, 299, 319, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1, buộc ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền nợ gốc, số tiền nợ lãi trong hạn, số tiền nợ lãi quá hạn, số tiền lãi chậm trả lãi tính đến ngày xét xử và tiền lãi phát sinh từ ngày 20 tháng 9 năm 2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.

Trường hợp ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đề nghị phát mại tài thế chấp:

- Quyền sử dụng đất ở với diện tích thực tế 354,3 m² và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ tại: Thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 777670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H/01861 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/10/2008 cho ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 và vợ là bà Vũ Hải Y ngày 12/01/2022 diện tích đất thế chấp là 304,2 m²).

Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 thì số tiền còn thừa phải được trả lại cho bên thế chấp là ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 thì ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.

Về án phí và chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn là bà Vũ Hải Y và toàn bộ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều vắng mặt tại phiên toà mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Vì vậy căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người ngày.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[2.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo Hợp đồng tín dụng số REF2205300171/HDTD/HP6-NTH ngày 23/02/2022 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 với ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y mục đích vay vốn: Vay mua bất động sản. Các đương sự không cung cấp được tài liệu thể hiện ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y có đăng ký hộ kinh doanh. Đối với đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 17/02/2022, loại thẻ BRG-Elite: Ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y vay Ngân hàng TMCP Đ1 thông qua hình thức phát hành và sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ mục đích sử dụng tiêu dùng. Chính vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp dân sự.

[2.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y có nơi cư trú tại huyện T, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3] Xét Hợp đồng tín dụng số REF2205300171/HDTD/HP6-NTH ngày 23/02/2022 và Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 17/02/2022, loại thẻ BRG-Elite giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 với ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y:

[3.1] Các hợp đồng tín dụng nêu trên đều được các bên thừa nhận ký kết tự nguyện, có nội dung, mục đích và hình thức phù hợp quy định tại các điều 117, 118, 119 của Bộ luật Dân sự, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng và không trái đạo đức xã hội nên các hợp đồng tín dụng này có hiệu lực pháp luật, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhau theo nội dung đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng.

[3.2] Thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 đã giải ngân đủ số tiền vay là 1.050.000.000 đồng theo hình thức chuyển khoản và phát hành phát tín dụng loại thẻ loại thẻ BRG-Elite cho ông Nguyễn Trung H1 là chủ thẻ chính, bà Vũ Hải Y là chủ thẻ phụ ngày 21/02/2022.

[3.3] Ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 như trên và đồng ý trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1 theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1.

[3.4] Bị đơn là ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y đã thừa nhận vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng do đó Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 yêu cầu ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải trả số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số REF2205300171/HDTD/HP6-NTH ngày 23/02/2022 và Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 17/02/2022, loại thẻ BRG-Elite giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 với ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y là có căn cứ. Vì vậy căn cứ vào các điều 280, 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1, buộc ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền nợ tính đến ngày 19/9/2024 là: Số tiền nợ gốc: 1.031.755.508 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn: 136.637.703 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn: 12.570.517 đồng; số tiền phạt chậm trả lãi: 7.283.925 đồng. Tổng cộng là 1.188.247.653 đồng.

[4] Xét Hợp đồng thế chấp số REF2205300171/HDTC/HP6-NTH ngày 23/02/2022 được công chứng theo số công chứng 834 quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/02/2022 tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng được ký giữa chủ tài sản là ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.

[4.1] Hợp đồng thế chấp nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, tài sản thế chấp được đăng ký bảo đảm Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, mục đích và nội dung của hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định tại các điều 298, 319 của Bộ luật Dân sự và không trái đạo đức xã hội.

[4.2] Đối với tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất 304,2 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ tại: Thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 777670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H/01861 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/10/2008 cho ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 và vợ là bà Vũ Hải Y ngày 12/01/2022.

[4.2.1] Tài sản này hiện nay đang do ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M sử dụng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2024, ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M không thừa nhận đã vợ chồng ông bà đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y diện tích đất và tài sản trên diện tích đất. Tuy nhiên, ông C và bà M thừa nhận chữ ký, chữ viết trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 23/9/2020, số công chứng 2387 quyển số 03.TP/CC-SCC/HĐGD là của vợ chồng ông bà. Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2024, Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên đã giải thích cho vợ chồng ông C, bà M có quyền làm đơn yêu cầu độc lập đối với bị đơn là ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y về việc tranh chấp và huỷ phần đính chính trang thứ tư trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/01/2022 về việc chuyển hượng thửa đất nêu trên cho vợ chồng ông H1, bà Y đối với quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên ông C bà M không làm đơn yêu cầu độc lập đối với ông H1, bà Y về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ thôn D, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng và không yêu cầu huỷ phần đính chính trang thứ tư trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/01/2022 về việc chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho vợ chồng ông H1, bà Y. Ông bà sẽ tự giải quyết thương lượng về mặt tình cảm với ông H1, bà Y. Trường hợp không thương lượng được ông bà sẽ làm đơn gửi cơ quan Công an để giải quyết.

[4.2.2] Ngày 22/8/2024, Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên đã có Thông báo số 351/TB-TA yêu cầu ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M cho biết đã làm đơn gửi Cơ qan Công an giải quyết chưa? Nếu có, đề nghị ông C, bà M gửi toàn bộ tài liệu chứng minh ông bà đã gửi Cơ quan Công an giải quyết việc giữa ông bà với ông H1, bà Y liên quan đến quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên diện tích thửa số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ tại: Thôn D, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng cho Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên. Tuy nhiên, ông C, bà M vẫn không cung cấp tài liệu nào thể hiện đã gửi đơn đến Cơ quan Công an để giải quyết việc giữa ông bà với ông H1, bà Y liên quan đến diện tích đất.

[4.2.3] Mặt khác, ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y xác định vợ chồng ông C, bà M không liên hệ với vợ chồng ông H1, bà Y về việc giải quyết diện tích đất nêu trên. Vợ chồng ông H1, bà Y xác định vợ chồng ông bà đã nhận chuyển nhượng hợp pháp diện tích đất này và không có tranh chấp gì đối với ông C, bà M. Chính vì vậy, ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M không yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp liên quan diện tích đất thế chấp giữa ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M với ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y nên Toà án không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Trường hợp sau này, ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M có tranh chấp với ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y liên quan đến quyền sử dụng đất ở và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng được giải quyết bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.

[4.2.4] Thửa đất số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ tại: Thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 777670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H/01861 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/10/2008 cho ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 và vợ là bà Vũ Hải Y ngày 12/01/2022, theo Giấy chứng nhận diện tích là: 304,2 m². Tuy nhiên theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện hiện trạng sử dụng thực tế đối với diện tích đất nêu trên là 408,1 m², trong đó: Diện tích ghép cạnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 349,3 m2, diện tích thuộc đất hành lang giao thông là 53,8 m², diện tích giáp đất hộ ông Nguyễn Văn T1 là 5 m². Theo xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Việc tăng 5 m² giáp hộ ông T1 là sai số tính toán đo đạc, gia đình ông T1 và gia đình ông C, bà M được ngăn cách bởi bờ tường bao do gia đình ông T1 xây từ lâu, không có việc lấn chiếm của gia đình ông C, bà M sang nhà ông T1. Còn 45,1 m² tăng lên so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do trước đây công thức tính toán sai, còn hình thể (các cạnh) giống như giấy nhận quyền sử dụng đất. Toàn bộ diện tích đất tăng thêm ông C, bà M sử dụng ổn định từ trước ngày 18/12/1980. Toàn bộ ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Văn T1 thừa nhận nội dung như chính quyền địa phương đã xác nhận như trên.

[4.2.5] Theo Công văn số 188/CV-CNVPĐKĐĐ ngày 11/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thể hiện: “Theo quy định tại khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì: Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có”. Vì vậy, thửa đất sẽ được xác định lại theo số đo thực tế mà không phải nộp tiền nếu ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề. Còn đối với diện tích đất 53,8 m² là đất hành lang giao thông, theo Ủy ban nhân dân xã L xác nhận diện tích đất 53,8 m² nêu trên là đất hành lang giao thông, hộ ông Phạm Văn C và bà Đỗ Thị M tự ý sử dụng. Ủy ban nhân dân xã L không giao đất, không cho thuê, cho mượn đối với cá nhân, tổ chức nào.

[4.2.6] Như vậy, diện tích đất tăng thêm theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 50,1 m² là sai số do tính toán đo đạc, không phải là lấn chiếm. Đố với diện tích đất 53,8 m² thuộc hành lang giao thông không được chuyển nhượng, tặng cho hay để thừa kế. Khi nhà nước thu hồi đất hoặc thực hiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng đối với vị trí trên thì các công trình, diện tích đất trên sẽ được bàn giao lại cho UBND xã.

[4.2.7] Ngân hàng TMCP Đ1 và ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y đều thống nhất phát mại quyền sử dụng diện tích đất theo hiện trạng (trừ diện tích 53,8 m² thuộc hành lang giao thông): 354,3 m² và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ tại: Thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Việc thoả thuận của Ngân hàng TMCP Đ1 và ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y là phù hợp với quy định pháp luật, không trái đạo đức như đã phân tích ở trên nên được chấp nhận.

[4.3] Hợp đồng thế chấp nêu trên được bảo đảm cho các Hợp đồng tín dụng số REF2205300171/HDTD/HP6-NTH ngày 23/02/2022, Đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 17/02/2022, loại thẻ BRG-Elite được ký giữa Ngân hàng TMCP Đ1 với ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y. Mặt khác, ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y đồng ý phát mại toàn bộ tài sản để đảm bảo cho cả các hợp đồng tín dụng nên cần được chấp nhận. Vì vậy trường hợp ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài thế chấp trên để thu hồi nợ là phù hợp quy định tại các điều 299, 320, 323 của Bộ luật Dân sự.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn là ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải chịu 47.647.430 đồng ((36.000.000 đồng + 3% x 1.188.247.653 đồng – 800.000.000 đồng)) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền tạm ứng án phí 22.126.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009850 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn xin chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Chi phí định giá tài sản ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y đã tạm ứng và không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải chịu 10.000.000 đồng. Ngân hàng TMCP Đ1 đã nộp tạm ứng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền 10.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 116, 117, 118, 119, 280, 298, 299, 319, 320, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1, buộc: Ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền nợ tính đến hết ngày 19 tháng 9 năm 2024 là:

  • + Số tiền nợ của Hợp đồng cho vay từng lần số REF2205300171/HDTD/HP6-NTH ngày 23/02/2022 được ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 và ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y: Số nợ gốc: 1.005.600.880 đồng; số nợ lãi trong hạn: 136.637.703 đồng; số nợ lãi quá hạn: 2.847.847 đồng; số nợ lãi phạt chậm trả: 7.283.925 đồng. Tổng cộng: 1.152.370.355 đồng.
  • + Số nợ theo Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân được ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 với ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y có mã KH đại diện/số hợp đồng 15896959: Số tiền nợ gốc là 26.154.628 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn: 0 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn: 9.722.670; số tiền phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng là 35.877.298 đồng.

Tổng cộng cả hai hợp đồng tín dụng nêu trên là 1.188.247.653 đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc: 1.031.755.508 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn: 136.637.703 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn: 12.570.517 đồng; số tiền phạt chậm trả lãi: 7.283.925 đồng.

Kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Nguyễn Trung H1 và bà Vũ Hải Y không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp:

- Quyền sử dụng đất ở diện tích theo hiện trạng đo thực tế là 354,3 m² có vị trí mốc giới từ 1-2-3-4-8-9-10-11-12-13-1 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 802 (2), tờ bản đồ số 06, địa chỉ tại: Thôn D (nay là thôn B), xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 777670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H/01861 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 08/10/2008 cho ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y ngày 12/01/2022 diện tích đất thế chấp là 304,2 m²) (có sơ đồ kèm theo).

Để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay từng lần số REF2205300171/HDTD/HP6-NTH ngày 23/02/2022, Đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân có mã KH đại diện/số hợp đồng 15896959 giữa Ngân hàng TMCP Đ1 với ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y.

Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 thì số tiền còn thừa phải được trả lại cho bên thế chấp là ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 thì ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.

2. Về án phí và chi phí tố tụng khác: Ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải chịu 47.647.430 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền tạm ứng án phí 22.126.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009850 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ông Nguyễn Trung H1, bà Vũ Hải Y phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền 10.000.000 đồng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 và bị đơn là ông Nguyễn Trung H1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là bà Vũ Hải Y và toàn bộ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn C, bà Đỗ Thị M, Ủy ban nhân dân xã L, huyện T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hằng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Đình Hùng

Doãn Văn Sáng

Vũ Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 53/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đông Nam Á + Hảo, Yến
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger