Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày: 19-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiến và bà Đinh Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hà N, sinh năm 1989; tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn F, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán vải, thiết kế quần áo; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang T, sinh năm 1952 và bà Trần Thị N1, sinh năm 1953; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là người con thứ nhất trong gia đình; có vợ là Lê Thị Hồng C, sinh năm 1989, có 01 người con sinh năm 2022;

Tiền sự:

- Ngày 30/11/2023, bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền là 1.500.000đồng;

- Ngày 11/01/2024, bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền là 1.500.000đồng;

- Ngày 14/01/2024, bị Công an xã H lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 23/01/2024.

Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/6/2024, tạm giữ, tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ - Công an huyện T. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Lê Thị Hồng C, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn F, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Có mặt)

Anh Nguyễn Công L, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Có mặt)

Trần Thị N1, sinh năm 1953; nơi cư trú: thôn F, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 02/6/2024, Lê Hà N sử dụng điện thoại cá nhân gọi vào số điện thoại 0352.514.xxx của người có tên L để mua ma túy đá với giá 400.000đồng, tuy nhiên N chưa có tiền và hẹn hôm sau sẽ trả cho L thì L đồng ý. Sau đó, Lưu hẹn N2 đến ngã tư B, thuộc thôn E, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận để giao nhận ma túy. L nói với N2 đã bỏ ma túy đá vào trong gói thuốc lá màu trắng, kèm theo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gọi là nỏ. Lê Hà N đi đến địa điểm đã hẹn và lấy ma túy của L đã để sẵn rồi mang về nhà, cất ở túi quần short màu trắng ở nhà tắm. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N lấy nỏ và ma túy ra sử dụng. Sau khi sử dụng xong, số ma túy còn lại chưa sử dụng Nhân cất vào túi quần bên phải quần short màu trắng treo ở nhà tắm, còn nỏ và chai nước dùng để sử dụng ma túy N cất vào bên trong túi quần bên trái quần short màu trắng treo ở nhà tắm.

Đến khoảng 14 giờ 00 ngày 03/6/2024, Lê Hà N đang ở nhà thì Công an xã H vào kiểm tra hành chính nhà của Lê Hà N, khi Công an xã kiểm tra phát hiện bên trong túi quần bên phải phía trước của quần short màu trắng treo ở nhà tắm có 01 hộp nhựa trong suốt hình vuông kích thước (3,5x3,5)cm, dày 1,7cm, bên trong hộp nhựa có chứa 1 túi nilon được hàn kín ba đầu, một đầu khóa zip màu đỏ kích thước (0,7x3,9) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, Lê Hà N đã khai nhận là ma túy đá.

Kiểm tra bên trong túi bên trái phía trước của quần short có 01 chai nhựa trong suốt chứa nước, chiều cao khoảng 13cm, phần đầu chai nhựa có nắp màu vàng, được đục hai lỗ, một lỗ có gắn 01 đoạn ống hút nhựa và một lỗ có gắn 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu hình cầu có lỗ, bên trong ống thủy tinh và hình cầu có lỗ có bám dính màu trắng, Lê Hà N khai nhận là ma túy đá. Công an xã H đã lập biên bản phạm tội quả tang và đưa Lê Hà N về trụ sở làm việc và niêm phong toàn bộ tang vật.

- Tang vật thu giữ gồm:

  • 01 (một) túi ni-long trong suốt, có kéo một đầu (túi zip) kích thước (0,7x3,9) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (Lê Hà N đã khai nhận là ma túy đá).
  • 01 (một) ống thủy tinh dài khoảng 12,5cm, đường kính khoảng 0,5cm, một đầu uốn cong, có hình bầu tròn đường kính khoảng 01cm, bên trong ống thủy tinh và trong hình bầu tròn có bám dính màu trắng (Lê Hà N đã khai nhận là ma túy đá).
  • 01 (một) hộp nhựa trong suốt, hình vuông có kích thước khoảng (3,5x3,5)cm, dày khoảng 1,7cm, bên ngoài có dán nhãn hiệu SEWING star.
  • 01 (một) chai nhựa trong suốt có chiều cao khoảng 13cm, bên ngoài có chữ JUMI.
  • 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi 13C, màu xanh, không gắn sim, đã qua sử dụng.

- Ngoài ra, Cơ quan cảnh sát điều tra còn thu giữ tài liệu, đồ vật, tài liệu gồm:

  • 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi C1, màu xanh, tình trạng máy đã bị nứt, vỡ màn hình cảm ứng.

Tại Kết luận giám định số 616/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B đã kết luận:

  • “- 01 (một) gói nylon màu trắng, có khóa kéo viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1); Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,8359gam là Methamphetamine.
  • 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong, nhiều mảnh vỡ thủy tinh và chất rắn màu trắng (Ký hiệu M2); Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,0641gam là Methamphetamine."

Tại Bản cáo trạng số 49/CT-VKSND-TL ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Lê Hà N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh: Giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hà N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hà N mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù giam.

Về vật chứng: - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 BLHS và điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) hộp nhựa trong suốt, hình vuông có kích thước khoảng (3,5x3,5)cm, dày khoảng 1,7cm, bên ngoài có dán nhãn hiệu SEWING star; 01 (một) chai nhựa trong suốt có chiều cao khoảng 13cm, bên ngoài có chữ JUMI, tất cả được niêm phong trong phong bì giấy có chữ “CÔNG AN XÃ HUY KHIÊM”, được dán kín các cạnh, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Toàn T2, Nguyễn Hữu L1, Trần Trung H, Lê Hà N và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã H, đánh số phong bì số 03;
  • 02 mẫu còn lại sau giám định: 01 (một) gói nylon màu trắng trong, có khóa kéo viền màu đỏ cùng 0,7310gam Mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 616/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và nhiều mảnh vỡ thủy tinh cùng 0,0547gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 616/2, có chữ ký giám định viên Đoàn T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi C1, màu xanh, tình trạng máy đã bị nứt, vỡ màn hình cảm ứng.

- Ý kiến của bị cáo: Không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lê Hà N đã khai nhận toàn bộ hành vi như Bản cáo trạng đã quy kết: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng đã thu giữ trong vụ án; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; Kết luận định giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án;

Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 03/6/2024, tại nhà riêng thuộc thôn F, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận bị cáo Lê Hà N bị Công an xã H bắt quả tang vì đang có hành vi tàng trữ 01 (một) túi ni-long trong suốt, có kéo một đầu (túi zip) kích thước (0,7x3,9) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 (một) ống thủy tinh dài khoảng 12,5cm, đường kính khoảng 0,5cm, một đầu uốn cong, có hình bầu tròn đường kính khoảng 01cm, bên trong ống thủy tinh và trong hình bầu tròn có bám dính màu trắng, Công an xã H đã tiến hành thu giữ và lập biên bản niêm phong trong phong bì số 1 và số 2 để trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 616/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận là Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,8359gam là Methamphetamine; Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,0641gam là Methamphetamine; tổng khối lượng là 0,9gam Methamphetamine là chất nằm trong danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ. Mục đích Lê Hà N tàng trữ trái phép chất ma túy để là để sử dụng. Như vậy là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo Lê Hà N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,9gam Methamphetamine. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh truy tố đối với hành vi của bị cáo là có căn cứ.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo góp phần làm phức tạp thêm tình hình an ninh trật tự và tệ nạn xã hội tại địa phương, làm gánh nặng thêm cho gia đình và xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn nhận thức được rằng hành vi tàng trữ trái phép ma túy dưới bất cứ hình thức nào cũng là hành vi vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thế nhưng bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm minh, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và cũng để răng đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên khi quyết định hình phạt cần xem xét lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng: Hiện đang thu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh:

  • 01 (một) hộp nhựa trong suốt, hình vuông có kích thước khoảng (3,5x3,5)cm, dày khoảng 1,7cm, bên ngoài có dán nhãn hiệu SEWING star; 01 (một) chai nhựa trong suốt có chiều cao khoảng 13cm, bên ngoài có chữ JUMI, tất cả được niêm phong trong phong bì giấy có chữ “CÔNG AN XÃ HUY KHIÊM”, được dán kín các cạnh, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Toàn T2, Nguyễn Hữu L1, Trần Trung H, Lê Hà N và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã H, đánh số phong bì số 03;
  • 02 mẫu còn lại sau giám định: 01 (một) gói nylon màu trắng trong, có khóa kéo viền màu đỏ cùng 0,7310gam Mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 616/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và nhiều mảnh vỡ thủy tinh cùng 0,0547gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 616/2, có chữ ký giám định viên Đoàn T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
  • 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi C1, màu xanh, tình trạng máy đã bị nứt, vỡ màn hình cảm ứng.

Xét thấy, vật chứng trên là vật chứng cấm tàng trữ, liên quan đến hành vi phạm tội; điện thoại không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Đối với hành vi của Nguyễn Công L: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không chứng minh được hành vi phạm tội của L, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ xử lý là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo Lê Hà N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Hà N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt: Lê Hà N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 04/6/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy đối với:

    • 01 (một) hộp nhựa trong suốt, hình vuông có kích thước khoảng (3,5x3,5)cm, dày khoảng 1,7cm, bên ngoài có dán nhãn hiệu SEWING star; 01 (một) chai nhựa trong suốt có chiều cao khoảng 13cm, bên ngoài có chữ JUMI, tất cả được niêm phong trong phong bì giấy có chữ “CÔNG AN XÃ HUY KHIÊM”, được dán kín các cạnh, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Toàn T2, Nguyễn Hữu L1, Trần Trung H, Lê Hà N và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã H, đánh số phong bì số 03;
    • 02 mẫu còn lại sau giám định: 01 (một) gói nylon màu trắng trong, có khóa kéo viền màu đỏ cùng 0,7310gam Mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 616/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và nhiều mảnh vỡ thủy tinh cùng 0,0547gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 616/2, có chữ ký giám định viên Đoàn T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
    • 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi C1, màu xanh, tình trạng máy đã bị nứt, vỡ màn hình cảm ứng.

    Tất cả các vật chứng nêu trên hiện đang thu giữ tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 8 năm 2024.

  4. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Lê Hà N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/9/2024).

(Đã giải thích quyền kháng cáo)

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Bình Thuận;

- VKSND huyện Tánh Linh;

- Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tánh Linh;

- Cơ quan THAHS - Công an huyện Tánh Linh;

- Nhà tạm giữ - Công an huyện Tánh Linh;

- Chi cục THADS huyện Tánh Linh;

- UBND xã Huy Khiêm (thay T/B);

- Bị cáo;

- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Như Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger