Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/7/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.

Hội Thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.

Ông Nguyễn Văn Kỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Huy D, sinh năm 1979. HKTT: Thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Vũ Thị K, sinh năm 1981. HKTT: Thôn Đ, xã B, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Đài Loan. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Nguyễn Huy D trình bày: Anh và chị Vũ Thị K kết hôn với nhau vào ngày 18/02/2000 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 53 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn, vợ chồng có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn không bị ép buộc hay lừa dối. Trải qua một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết do bất đồng quan điểm, vợ chồng ly thân nhiều năm. Nhận thấy cuộc hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh D đề nghị được ly hôn chị K.

Về con chung: Sau khi kết hôn, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Huy Đ, sinh năm 2000 và cháu Nguyễn Thị Phương A sinh ngày 25/11/2006. Cháu Đ đã đủ 18 tuổi việc ở với ai do cháu quyết định, đối với cháu Phương A hiện đang ở với anh, khi ly hôn anh D xin được nuôi cháu Phương A và không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với địa chỉ của chị K: từ khi vợ chồng mâu thuẫn, chị K đi Đài Loan vợ chồng không nói chuyện nữa, anh D được biết chị K vẫn thường xuyên liên lạc với 02 con và bố mẹ chị K qua điện thoại, anh có nhiều lần bảo con anh hỏi địa chỉ cụ thể của chị K nhưng chị K đều không nói.

Bị đơn chị Vũ Thị K đã được Tòa án thông báo, triệu tập và niêm yết nhiều lần, nhưng chị K không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.

Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Vũ Văn V là bố đẻ của chị Vũ Thị K, ông V trình bày: Ông là bố đẻ của Vũ Thị K, sinh năm 1981. HKTT: Thôn Đ, xã B, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Con gái ông hiện nay đang lao động ở Đài Loan, con gái ông thường xuyên gọi điện liên lạc về gia đình nhưng ông không biết địa chỉ ở Đài Loan, ông đã hỏi nhưng chị K không nói. Nay liên quan đến việc anh Nguyễn Huy D xin ly hôn với con gái ông thì quan điểm của ông và gia đình là không can thiệp và không nhận thay các văn bản.

Tòa án đã tiến hành ghi lời khai của cháu Phương A tuy nhiên cháu đều không trả lời và không trình bày nguyện vọng muốn sống với ai nếu bố mẹ cháu ly hôn.

Tại phiên toà: Nguyên đơn anh D có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh D, xử cho anh Nguyễn Huy D được ly hôn chị Vũ Thị K. Về con chung: Đề nghị giao cháu Phương A cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Anh Dũng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, anh Nguyễn Huy D đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với chị Vũ Thị K và có nguyện vọng xin nuôi cháu Phương A. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình".

Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Huy D thì bị đơn là chị Vũ Thị K có hộ khẩu thường trú tại: thôn Đ, xã B, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và hiện đang cư trú, làm việc tại Đài Loan. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn chị Vũ Thị K trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc, yêu cầu người thân thích cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của chị K nhưng đều không cung cấp mặc dù chị K thường xuyên liên lạc về cho gia đình. Tòa án đã tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Huy D và chị Vũ Thị K kết hôn 18/02/2000 và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, tại thời điểm kết hôn anh D và chị K đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị K là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, theo anh D trình bày vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết do bất đồng quan điểm, vợ chồng ly thân nhiều năm. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh D, chị K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh D là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho anh Nguyễn Huy D được ly hôn chị Vũ Thị K.

[2.2]. Về con chung: Vợ chồng anh D, chị K có 02 con chung là cháu Nguyễn Huy Đ, sinh năm 2000 và cháu Nguyễn Thị Phương A sinh ngày 25/11/2006; cháu Đ đã trên 18 tuổi nên việc cháu ở với ai do cháu tự quyết định; đối với cháu Phương A, cháu không trình bày nguyện vọng mong muốn ở với ai tuy nhiên hiện nay đang ở với anh D, còn chị K đang ở nước ngoài, do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu, cần tiếp tục giao cháu Phương A cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Anh Dũng không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Dũng trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Huy D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Huy D: Anh Nguyễn Huy D được ly hôn chị Vũ Thị K.
  2. Về con chung Giao cháu Nguyễn Thị Phương A sinh ngày 25/11/2006 cho anh Nguyễn Huy D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Vũ Thị K được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Huy D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh D đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000129 ngày 19/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi cư trú của đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh D xin ly hôn chị K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger