Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày 18 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Minh Châu;

Ông Trần Duy Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Lam Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Trường K (Tên gọi khác: B), sinh ngày 07/7/2002, tại tỉnh Đồng Tháp;

Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bến H, sinh năm 1970 và bà Ngô Thị Trường A, sinh năm 1987; vợ, con: Không; tiền sự: Chưa, tiền án: 02 tiền án (Ngày 30/3/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/11/2021; ngày 27/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2024); tạm giữ: Không, tạm giam: Từ ngày 18/8/2024 đến ngày 10/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H.

2. Họ và tên: Trần Quốc D, sinh ngày 26/8/2003, tại tỉnh Đồng Tháp;

Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P (chết) và bà Trịnh Thị V (chết); vợ, con: Không; tiền sự, tiền án: Chưa; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Trần Kim T, sinh năm 1983 (Vắng mặt có đơn);

Nơi cư trú: Số nhà A, đường L, khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Văn M, sinh năm 1989 (Vắng mặt có đơn);

    Nơi cư trú: Số nhà B, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Nguyễn Văn Nu T1 (Tên gọi khác: Nu B), sinh năm 1992 (Vắng mặt có đơn);

    Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trường K có 02 (hai) tiền án về tội trộm cắp tài sản (tái phạm), bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự xử phạt 01 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/02/2024, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vào khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 07/7/2024 Nguyễn Trường K đi bộ đến ngã tư đường N và Chu Văn A1 thuộc khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp thì gặp Trần Quốc D điều khiển xe mô tô biển số 67F1-062.052 chạy qua nên Nguyễn Trường K gọi Trần Quốc D hỏi “Đi sanh sữa không?”, tức là đi tìm tài sản để lấy trộm không? Trần Quốc D đồng ý. Sau đó Trần Quốc D điều khiển xe chở Nguyễn Trường K đi đến khu chợ T3 tìm tài sản lấy trộm nhưng không có. Sau đó, Nguyễn Trường K chở Trần Quốc D đi đến số nhà A, đường L, thuộc khóm D, phường A, thành phố H phát hiện có 02 (hai) thùng xốp chứa chim cút đã được làm sạch của chị Trần Kim T (mỗi thùng có trọng lượng là 50 kg) để trên bàn trước nhà, Nguyễn Trường K dừng lại kêu Trần Quốc D lấy trộm 01 (một) thùng, Trần Quốc D đồng ý, xuống xe lấy 01 (một) thùng xốp đem lên xe, Nguyễn Trường K chở đến nhà Nguyễn Trường K ở khóm C, phường A, thành phố H để cất giấu. Sau đó Nguyễn Trường K và Trần Quốc D mở thùng thấy bên trong là chim cút đã được làm sạch nên Nguyễn T2 K lấy ra khoảng 04 (bốn) đến 05 (năm) con để nướng ăn, Trần Quốc D lấy khoảng 10 (mười) con mang đi chế biến ăn thì bị lực lượng chức năng phát hiện, tạm giữ tang vật có liên quan. Tiến hành xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, xét thấy có dấu hiệu tội phạm nên chuyển hồ sơ, tang vật đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Trường K và Trần Quốc D thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 50/KL-HĐĐG, ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H đã kết luận: Giá trị 232 con chim cút đã được làm sạch = 50 kg là: 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm ngàn đồng).

Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 (một) thùng xốp màu trắng kích thước chiều ngang 40cm, chiều dài 60cm, chiều cao 40cm, bên trong có chứa 217 (hai trăm mười bảy) con chim Cút, đã được làm sạch lông, có trọng lượng 43,3kg.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả cho bị hại là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định.

Đối với 01 (một) xe mô tô có gắn biển số: 67F1-062.05, số máy: 5C63-321561, số khung: RLCS5C630 AY321503, nhãn hiệu YAMAHA, màu đỏ đen (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động bên trong). Biển số do ông Nguyễn Quốc S đứng tên chủ sở hữu, riêng số khung và số máy là xe do ông Nguyễn Văn M đứng tên chủ sở hữu. Qua điều tra xác định đây là xe bị trộm, đã được ông Nguyễn Văn M trình báo mất trộm vào ngày 24/10/2022 tại Công an xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã có công văn chuyển vật chứng kèm tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện L để tiếp tục điều tra làm rõ.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Trần Kim T đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại cáo trạng số: 53/CT-VKSTPHN ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự truy tố bị cáo Nguyễn Trường K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự truy tố. Ngoài ra, không ý kiến, yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã phát biểu lời luận tội: Khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Trường K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trần Quốc D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trường K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường K từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù; căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc D từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù; về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Do các bị cáo là người làm thuê, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng.

Đối với Nguyễn Văn Nu T1 (N) là người cho bị cáo Trần Quốc D mượn xe mô tô có gắn biển số: 67F1-062.05, số máy: 5C63-321561, số khung: RLCS5C630 AY321503, nhãn hiệu YAMAHA, màu đỏ đen. Qua điều tra Nguyễn Văn Nu T1 (N) khai nhận mua xe của người nam thanh niên, không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền 3.000.000đồng, không có làm giấy tở mua bán, sau đó Nguyễn Văn Nu T1 (N) cho bị cáo Trần Quốc D mượn để sử dụng đi lại hằng ngày. Xét thấy việc bị cáo Trần Quốc D sử dụng xe mô tô trên để trộm cắp tài sản, thì Nguyễn Văn Nu T1 (N) không biết nên không xem xét xử lý Nguyễn Văn Nu T1 (N) về hành vi đồng phạm. Đối với xe mô tô có gắn biển số: 67F1-062.05, số máy: 5C63-321561, số khung: RLCS5C630 AY321503, nhãn hiệu YAMAHA, màu đỏ đen là tài sản trộm đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H chuyển cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra làm rõ nên không xem xét xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” của Nguyễn Văn Nu T1 (N) trong vụ án này.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, nên không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bằng hình thức trao trả lại cho bị hại tài sản mất trộm và liên quan đến hành vi phạm tội là phù hợp, đúng quy định nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

Các bị cáo thống nhất nội dung luận tội của Kiểm sát viên và không tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trường K, Trần Quốc D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng số: 53/CT-VKSTPHN ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố, cụ thể:

[3] Bị cáo Nguyễn Trường K thừa nhận trước đây có 02 (hai) tiền án về tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự xử phạt 01 năm 06 tháng tù và đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/02/2024. Đến ngày 07/7/2024, bị cáo Nguyễn Trường K và bị cáo Trần Quốc D lợi dụng ban đêm vắng người, không có người trông coi tài sản nên các bị cáo đã lén lút, thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) thùng xốp có trọng lượng là 50 Kg và chứa chim cút đã được làm sạch đem lên xe và chở về nhà của bị cáo Nguyễn Trường K cất giấu. Sau đó, lực lượng chức năng phát hiện, tạm giữ tang vật và điều tra theo quy định của pháp luật. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Trong thời gian chưa được xóa án tích, mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản vào ngày 07/7/2024. Như vậy, bị cáo Nguyễn Trường K thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Tại thời điểm nêu trên, bị cáo Trần Quốc D đang điều khiển xe mô tô biển số 67F1-062.052, thì gặp bị cáo Nguyễn Trường K gọi lại và hỏi bị cáo Trần Quốc D “Đi sanh sữa không?”, tức là đi tìm tài sản để lấy trộm không?, thì bị cáo Trần Quốc D đồng ý. Sau đó, bị cáo Nguyễn Trường K chở bị cáo Trần Quốc D đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp, thì phát hiện 02 (hai) thùng xốp chứa chim cút đã được làm sạch, nên bị cáo Nguyễn Trường K dừng xe lại kêu bị cáo Trần Quốc D xuống xe lấy trộm 01 (một) thùng và đem lên xe chở về nhà của bị cáo Nguyễn Trường K cất giấu. Sau đó, lực lượng chức năng phát hiện, tạm giữ tang vật và điều tra theo quy định của pháp luật. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

[5] Căn cứ vào bản kết luận định giá tài sản số: 50/KL-HĐĐG, ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H đã kết luận: Giá trị 232 con chim cút đã được làm sạch = 50 kg là: 3.200.000đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng).

[6] Như vậy, đã có đủ chứng cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Trường K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Quốc D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[7] Tại Điều 173. Tội Trộm cắp tài sản quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a). Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm...2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm; a)....g) Tái phạm nguy hiểm....5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[8] Tại Điều 17. Đồng phạm quy định: “1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

[9] Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ sức khỏe; không có nghề nghiệp ổn định và lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền nên có ý định đi quan sát tìm kiếm tài sản của người khác để sơ hở, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại tuy giá trị tài sản không lớn, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất công khai, liều lỉnh, có ý định trước trộm cắp tài sản của người khác nên quan sát không thấy có người trông coi tài sản, thời điểm ban đêm vắng người đi lại, lén lút trộm cắp tài sản nêu trên nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bán tiêu xài cá nhân.

[10] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trường K là nghiêm trọng, còn hành vi phạm tội của bị cáo Trần Quốc D là ít nghiêm trọng; có tính chất công khai, liều lỉnh, thời điểm ban đêm vắng người đi lại, tài sản không có người trông coi nên các bị cáo lén lút, thực hiện hành vi lén lút, trộm cắp tài sản, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mặc dù giá trị tài sản không lớn. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính chất công khai, liều lĩnh, không có nghề nghiệp ổn định, lười lao động, thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện, thích lối sống tự do, không lành mạnh, muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài cá nhân nên dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội; hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang trong quần chúng Nhân dân, không an tâm lao động sản xuất.

[11] Tội phạm mà các bị cáo gây ra đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Trường K thực hiện hành vi phạm tội với vai trò chủ mưu, còn bị cáo Trần Quốc D thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thực hành tích cực. Mặc khác do bị hại sơ hở, lơ là trong việc quản lý, trông coi tài sản đã tạo điều kiện để các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay, tình hình “Trộm cắp tài sản” trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức phức tạp, tinh vi.

[12] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[13] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Trường K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Quốc D phạm tội lần đầu và thuộc trưởng hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[14] Nhân thân của bị cáo Nguyễn Trường K: Chưa có tiền sự; tiền án có 02 tiền án: Ngày 30/3/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/11/2021; ngày 27/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/02/2024; bị cáo Nguyễn Trường K chưa được xóa án tích.

[15] Nhân thân của bị cáo Trần Quốc D: Chưa có tiền án, tiền sự; chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

[16] Các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là tiền, nhưng xét thấy các bị cáo là người lao động làm thuê, không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung.

[17] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và có mức án nghiêm khắc tương xứng đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh, nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[18] Đối với Nguyễn Văn Nu T1 (N) là người cho bị cáo Trần Quốc D mượn xe mô tô có gắn biển số: 67F1-062.05, số máy: 5C63-321561, số khung: RLCS5C630 AY321503, nhãn hiệu YAMAHA, màu đỏ đen. Qua điều tra Nguyễn Văn Nu T1 (N) khai nhận mua xe của người nam thanh niên, không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền 3.000.000đồng, không có làm giấy tở mua bán, sau đó Nguyễn Văn Nu T1 (N) cho Trần Quốc D mượn để sử dụng đi lại hằng ngày. Xét thấy việc bị cáo Trần Quốc D sử dụng xe mô tô trên để trộm cắp tài sản, thì Nguyễn Văn Nu T1 (N) không biết nên không xem xét xử lý Nguyễn Văn Nu T1 (N) về hành vi đồng phạm. Đối với chiếc xe mô tô có gắn biển số: 67F1-062.05, số máy: 5C63-321561, số khung: RLCS5C630 AY321503, nhãn hiệu YAMAHA, màu đỏ đen là tài sản trộm đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H chuyển cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra làm rõ nên không xem xét xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” của Nguyễn Văn Nu T1 (N) trong vụ án này, nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[19] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[20] Việc xử lý vật chứng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bằng hình thức trao trả lại bị hại tài sản mất trộm là phù hợp và đúng quy định nên Viện kiểm sát không đề cập đến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[21] Đối với vật chứng: Không có.

[22] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 14, Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Trường K được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Trần Quốc D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường K 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam (ngày 18/8/2024).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc D 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

Về vật chứng vụ án: Không có.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 14, Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Trường K được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Quốc D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 18 tháng 11 năm 2024). Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt theo quy định của pháp luật.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan Điều tra Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan THA HS Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Trường K, Trần Quốc D phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger