|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vang Thanh Hải.
Bà Đặng Thị Ngọc.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 07/2024/HSST-QĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lâm Thị C, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1960, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 4/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm Văn K và con bà Đặng Thị K1 (Đều đã chết); chồng: Nguyễn Bình N, con: 04 người con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Lâm Thị H, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1966, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản Na Bón, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 3/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm Văn K và con bà Đặng Thị K1 (Đều đã chết); chồng: Lô H, con: 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Công T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt
Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Hồng V – Chức vụ: Chủ tịch
Đại diện theo ủy quyền: Anh Lô Văn T1 – Chức vụ: Phó trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T, tỉnh Nghệ An. Có đơn xét xử vắng mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Lô Thái H1, sinh năm 1995, trú tại: Bản B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
Bà Vi Thị X, sinh năm 1967, trú tại: Bản B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
Anh Lô Văn N1, sinh năm 1990, trú tại: Bản B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có đơn xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng thời gian giữa tháng 02/2024, Lâm Thị C thấy khu vực rừng lô 99, khoảnh 2, tiểu khu F thuộc bản B, xã T, huyện T được UBND huyện T giao cho anh Lô Thái H1 (con trai của em gái ruột của C) quản lý, bảo vệ nhưng anh H1 đi làm ăn xa nên C nảy sinh ra ý định chặt phá phần rừng này để trồng cây keo, sau khi keo lớn C sẽ bán lấy tiền. Lâm Thị C không hỏi ý kiến của anh H1 về việc có đồng ý cho C chặt phá để trồng keo. Sau đó, Lâm Thị C rủ Lâm Thị H là em gái của C để cùng nhau chặt phá rừng của anh H1, sau này khi keo lớn hai người sẽ bán và chia nhau số tiền bán có được thì H đồng ý. Lâm Thị C và Lâm Thị H mỗi người dùng 01 con dao để phát những cây nhỏ, 02 người phát được khoảng 1, 2 ngày thì dừng nghỉ khoảng 1, 2 ngày rồi lại phát tiếp, cứ như vậy đến khi phát xong những cây nhỏ trong phần rừng mà hai người dự định chặt phá để trồng cây keo. Quá trình phát rừng, C và H không xin phép cơ quan có thẩm quyền.
Đến khoảng cuối tháng 02 năm 2024, khi C và chị H đã chặt, phát xong những cây nhỏ. Còn đối với những cây to, Lâm Thị C đã đến nhà anh Lô Văn N1, sinh năm 1990, trú tại bản B, xã T, huyện T để thuê anh N1 đến cưa những cây to trong khu vực C định chặt phá với giá 200.000đ/ngày thì anh N1 đồng ý. Anh N1 đến khu vực rừng dùng 01 con dao để chặt những cây gỗ nhỏ, những cây mét còn sót lại và dùng cưa xăng của C để cưa hạ những cây lớn trong khu vực này trong vòng 02 ngày. Sau khi anh N1 cưa hạ xong những cây lớn, Lâm Thị C đã trả cho anh N1 số tiền công là 400.000 đồng. Quá trình chặt phá Lâm Thị C và Lâm Thị H đã chặt phá lấn sang phần rừng thuộc lô A, khoảnh 2, tiểu
khu F thuộc bản B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An được UBND huyện T giao cho chị Vi Thị X, sinh năm 1967, trú tại bản Bãi Xa, xã T nhưng C và H không biết.
Ngày 08/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, Hạt kiểm lâm huyện T, Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, Ban quản lý bản Bãi Xa và các cá nhân có liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc, kết quả xác định:
Khu vực rừng bị Lâm Thị C và Lâm Thị H chặt phá để trồng cây keo là các lô 99, 104 khoảnh 2, tiểu khu F thuộc địa phận bản Bãi Xa, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Tổng diện tích rừng bị chặt phá là 8.337 m² (Tám nghìn ba trăm ba mươi bảy mét vuông).
Tổng khối lượng các gốc cây: 0,294m³ (không phẩy hai trăm chín mươi tư mét khối).
Tổng khối lượng các lóng cây: 1,266m³ (một phẩy hai trăm sáu mươi sáu mét khối).
Trạng thái rừng thực tế lúc kiểm tra: Rừng lá rộng thường xanh nghèo kiệt (TXK).
Tại công văn số 1318/SNN-KL ngày 08/4/2024 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh N và công văn số 94/HKL-PC ngày 03/4/2024 của Hạt kiểm lâm huyện T đều thể hiện:
- Loại rừng: Căn cứ bản đồ quy hoạch 3 loại rừng được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 48/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2024 thì lô 99, 104, khoảnh 2, tiểu khu F là khu vực rừng tự nhiên thuộc quy hoạch rừng sản xuất.
- Chủ quản lý rừng: Căn cứ Quyết định số 1764/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND huyện T về việc giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân tại xã T, huyện T thì:
- + Rừng thuộc lô 99, khoảnh 2, tiểu khu F, bản B, xã T, huyện T được giao cho hộ gia đình ông Lô Thái H1, địa chỉ bản B, xã T, huyện T.
- + Rừng thuộc lô 104, khoảnh 2, tiểu 695, bản B, xã T, huyện T được giao cho hộ gia đình bà Vi Thị X, địa chỉ tại bản B, xã T, huyện T.
- Trạng thái rừng:
- + Căn cứ Quyết định số 238/QĐ-UBND ngày 29/01/2024 của UBND huyện T về việc phê duyệt và công bố hiện trạng rừng huyện T năm 2023 xác định lô 99, 104 khoảnh 2, tiểu khu F có trạng thái rừng là Diện tích đã trồng trên núi đất (DTR).
- + Tuy nhiên, căn cứ kết quả đo đếm, lập ô tiêu chuẩn thực tế tại hiện trường theo quy định tại Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ N2 quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng, xác định lô 99, 104 khoảnh 2, tiểu khu F có trạng thái rừng là R lá rộng thường xanh nghèo kiệt (TXK).
Tại bản kết luận giám định số 225/CNR-VP ngày 11/4/2024 của V1 rừng, V2 kết luận:
Căn cứ kết quả phân tích cấu tạo thô đại và hiển vi của 41 (bốn mươi mốt) mẫu gỗ giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T trưng cầu giám định, được ghi số đăng ký mẫu giám định của V1 rừng lần lượt từ 24089-1 đến 24089-16 và từ 24090-1 đến 24090-25 (Biên bản mở niêm phong hồ sơ, đối tượng, thông tin, tài liệu, đồ vật, mẫu vật giám định ngày 08/4/2024), kiểm tra so sánh với cơ sở dữ liệu các loài gỗ, mẫu tham chiếu, tài liệu, kết luận 41 (bốn mươi mốt) mẫu gỗ giám định nêu trên thuộc 03 (ba) chủng loại gỗ khác nhau, gồm G (L1.), Đ ngọn (T2 ngạnh, L ngạnh) (Cratoxylum prunifolium) và C1 lò (Betula alnoides).
Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo gỗ và khối lượng thể tích của mẫu gỗ giám định: Giẻ (Lithocarpus sp.) thuộc nhóm gỗ V, Đ ngọn (T2 ngạnh, L ngạnh) (Cratoxylum prunifolium) thuộc nhóm gỗ VIII, C1 lò ( Betula alnoides) thuộc nhóm gỗ VI trong “Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước” ban hành kèm theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L2 - nay là Bộ N2.
Các loài gỗ trên không có tên trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; và không có tên trong “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ do vậy đây là các loài thực vật rừng thông thường.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/KLĐG ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Tại thời điểm tháng 02/2024:
- - 21 gốc cây và lóng cây gỗ Giẻ, thuộc nhóm gỗ V, có khối lượng 2,333m³ có giá trị 1.866.400 đồng (Một triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm đồng).
- - 03 gốc cây và lóng cây gỗ Đỏ ngọn (T, L) thuộc gỗ nhóm VII, có khối lượng 0,71m³ có giá trị 568.000 đồng (năm trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
- - 01 gốc cây và lóng cây Cáng Lò, thuộc gỗ nhóm VI, có khối lượng 0,728m³ có giá trị 582.400 đồng (năm trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm đồng).
Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 3.016.800 đồng (Ba triệu không trăm mười sáu nghìn tám trăm đồng).
Bản cáo trạng số 53/CT-VKS-TD ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố các bị cáo Lâm Thị C, Lâm Thị H về tội: “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- + Điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt: Bị cáo Lâm Thị C mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm nhưng được hưởng án treo thời gian thử thách 03 năm đến 04 năm về tội “Hủy hoại rừng”;
- + Điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b,s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt: Bị cáo Lâm Thị H mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng nhưng được hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm 06 tháng 03 năm 04 tháng về tội “Hủy hoại rừng”;
Bị cáo Lâm Thị C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lâm Thị H và miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; xử lý vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.
Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất: Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng hình ở mức thấp hơn theo đề nghị của Kiểm sát viên; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lâm Thị H và hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện T: Bị cáo Lâm Thị H và bị cáo Lâm Thị C bồi thường thiệt hại số tiền 1.000.000đ và chủ động khắc phục hậu quả bằng việc trồng lại diện tích rừng mà các bị cáo đã hủy hoại. Tại phiên tòa Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện T không yêu cầu các bị cáo Lâm Thị H và bị cáo Lâm Thị C bồi thường.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Lô Thái H1 và bà Vi Thị X không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia
tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lâm Thị C, Lâm Thị H đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của đại diện nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian tháng 02 năm 2024, tại khu vực rừng thuộc các lô 99, 104 khoảnh 2, tiểu khu F thuộc bản B, xã T, huyện T, là khu vực rừng tự nhiên thuộc quy hoạch rừng sản xuất. Chủ quản lý, bảo vệ của các khu vực rừng là anh Lô Thái H1, sinh năm 1995 và bà Vi Thị X, sinh năm 1967, đều trú tại bản Bãi Xa, xã T, huyện T. Lâm Thị C và Lâm Thị H đã có hành vi chặt phá rừng trái phép với tổng diện tích là 8.337 m², gây thiệt hại 3.771m³ mét khối gỗ có trị giá 3.016.800 đồng. Hành vi các bị cáo đã thực hiện và diện tích rừng bị hủy hoại đã cấu thành tội: Hủy hoại rừng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.
Chính vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố các bị cáo Lâm Thị C, Lâm Thị H theo tội danh và Điều luật, viện dẫn ở trên là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm hại nghiêm trọng đến môi trường rừng, môi trường sinh sống của các loài động, thực vật, gây mất cân bằng hệ sinh thái, khí quyển. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên vẫn cố ý hủy hoại rừng để lấy đất trồng trọt. Nên cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tính chất răn đe phòng ngừa chung, đặc biệt tình hình hủy hoại rừng đang diễn ra phức tạp tại huyện T nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung.
Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo thực hiện tội phạm thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, câu kết một cách chặt chẽ. Bị cáo C là người khởi xướng, rủ bị cáo H tham gia phá rừng nên cần lên mức hình phạt cao hơn bị cáo H là thỏa đáng.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền 1.000.000đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và chủ động khắc phục hậu quả bằng việc
trồng lại diện tích rừng mà các bị cáo đã hủy hoại; các bị cáo là người dân tộc thiểu số một phần hạn chế hiểu biết pháp luật, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Chồng bị cáo Lâm Thị C là người có công với cách mạng được được Bộ tặng giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, các bị cáo không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, mục đích các bị cáo phá rừng là để trồng cây lâm nghiệp cải thiện đời sống kinh tế gia đình chứ không nhằm mục đích khai thác lâm sản. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tính răn đe, giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của các bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Lâm Thị C, Lâm Thị H đã tự nguyện bồi thường Ủy ban nhân dân xã T số tiền 1.000.000đ. Đại diện Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng vụ án:
- - 01 (một) máy cưa xích loại chạy bằng xăng, nhãn hiệu HUSQVANA, vỏ màu cam, đã qua sử dụng thu giữ của Lâm Thị C, là vật chứng vụ án cần bán đấu giá sung ngân sách nhà nước .
- - 01 con dao dài 46cm, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 26cm, phần rộng nhất 06cm, phần cán dao làm bằng gỗ, có chiều dài 20cm thu giữ của Lâm Thị C; 01 con dao dài 44cm, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 28cm, phần rộng nhất 06cm, phần cán dao làm bằng gỗ, có chiều dài 16cm thu giữ của Lâm Thị H; 01 con dao dài 45cm, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 25cm, phần rộng nhất 05cm, phần cán dao làm bằng gỗ, có chiều dài 16cm, phần lưỡi dao có vỏ bằng gỗ dài 29cm, thu giữ của Lô Văn N1, là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy
- - Đối với 21 lóng cây gỗ Dẻ có tổng khối lượng là 2,147m³, 03 lóng cây Đỏ ngọn có tổng khối lượng 0,669m³, 01 lóng cây cáng lò có tổng khối lượng 0,706m³ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với anh Lô Văn N1 người được Lâm Thị C thuê chặt phá nhưng quá trình điều tra xác định anh N1 không nhận thức được loại rừng, chủ quản lý rừng là ai mà chỉ làm thuê nhằm lấy tiền công nên không có đủ căn cứ để xử lý
[10] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Lâm Thị H người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lâm Thị H. Bị cáo Lâm Thị C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Lâm Thị C 02 (Hai) năm tù nhưng được hưởng án treo thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm về tội “Hủy hoại rừng”, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Lâm Thị H 01 (Một) năm 08 (T3) tháng tù nhưng được hưởng án treo thời gian thử thách là 03 (Ba) năm 04 (Bốn) tháng về tội “Hủy hoại rừng”, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lâm Thị C cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An nơi các bị cáo thường trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại 92 Luật thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Lâm Thị H cho UBND xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An nơi các bị cáo thường trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tiêu hủy: 01 con dao dài 46cm, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 26cm, phần rộng nhất 06cm, phần cán dao làm bằng gỗ, có chiều dài 20cm thu giữ của Lâm Thị C; 01 con dao dài 44cm, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 28cm, phần rộng nhất 06cm, phần cán dao làm bằng gỗ, có chiều dài 16cm thu giữ của Lâm Thị H; 01 con dao dài 45cm, lưỡi dao làm bằng kim loại màu đen dài 25cm, phần rộng nhất 05cm, phần cán dao làm bằng gỗ, có chiều dài 16cm, phần lưỡi dao có vỏ bằng gỗ dài 29cm, thu giữ của Lô Văn N1;
- + Bán đấu giá sung ngân sách nhà nước: 01 (một) máy cưa xích loại chạy bằng xăng, nhãn hiệu HUSQVANA, vỏ màu cam, đã qua sử dụng thu giữ của Lâm Thị C.
(Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận ngày 29.7.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
- Tiêu hủy: 21 lóng cây gỗ Dẻ có tổng khối lượng là 2,147m³, 03 lóng cây Đỏ ngọn có tổng khối lượng 0,669m³, 01 lóng cây cáng lò có tổng khối lượng 0,706m³ (Hiện đang được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An trông coi, bảo quản theo biên bản làm việc ngày 08/3/2024 giữa ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và Công an huyện T, tỉnh Nghệ An).
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lâm Thị H.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo Lâm Thị C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền khánh cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 19/9/2024. Nguyên đơn dân sự, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Ái |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về hủy hoại rừng
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy hoại rừng
