Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

-------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 53/2024/HS -ST

Ngày: 18 - 06 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trung Thành
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Khắc Tuấn
  • Ông Phương Văn Quang
  • - Thư ký phiên toà: Ông Lương Ngọc Thắng, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Minh C, sinh ngày 06/3/1992; Nơi ĐKHKTT: Số A, ngõ P, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Ngọc H, sinh năm 1958; Con bà: Trần Thị X, sinh năm 1963; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994. Con: Có 02 con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2013 Công an phường L, thị xã S xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024, hiện đang tạm giam tại trại giam S Công an T1; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Hoàng Ngọc H, sinh năm 1958; địa chỉ: Số A ngõ P, phường V, thị xã S, thành phố Hà Nội; vắng mặt
  • + Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1971; địa chỉ: Xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Minh C là đối tượng sử dụng chất ma túy. Ngày 05/01/2024 C nhận được điện thoại của Vũ Ngọc T, sinh năm 1971 ở T, huyện B, Hà Nội hỏi mua ma túy đá, C đồng ý và hẹn T ở khu vực Đường đôi khu đô thị H. Khoảng 15 giờ cùng ngày cả hai gặp nhau, T đưa cho C 600.000đ. C cầm tiền rồi đi ra khu vực bến xe thị xã S tìm và mua 01 gói ma túy giá 300.000đ của một phụ nữ không biết tên, địa chỉ. Sau khi mua được ma túy, C ngậm trong miệng rồi quay lại khu đô thị H, C thấy T đang cầm túi bánh mỳ ở tay, C đến gần cầm túi bánh mỳ của T đưa lên miệng nhả gói ma túy vào trong túi bánh rồi đưa lại cho T, cùng lúc đó tổ công tác Công an phường X phối hợp đội CSĐTP về ma túy Công an thị xã S hiện bắt quả tang hành vi mua bán ma túy của C và T.

Vật chứng thu giữ :

  • - 01 gói nilông trong suốt chứa tinh thể màu trắng thu giữ bên trong túi giấy đựng bánh mỳ màu vàng Trực đang cầm trên tay (T khai là ma túy vừa mua của C)
  • - Số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) thu của C

Ngoài ra còn thu giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng và 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, BKS 33N8-8316; Thu của T 01 điện thoại N.

Ngày 05/01/2024, Cơ quan điều tra Công an thị xã S ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ khi bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 418/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của phòng kỹ thuật Công an thành phố T1 kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,062 gam”.

Quá trình điều tra, Hoàng Minh C khai nguồn gốc ma túy Công an thu giữ, C mua của người phụ nữ không biết tên, địa chỉ ở khu vực bến xe thị xã S, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Đối với Vũ Ngọc T là người có hành vi mua ma túy của Hoàng Minh C, tuy nhiên khối lượng ma túy không đủ xử lý hình sự, bản thân T chưa có tiền án, tiền sự, Cơ quan điều tra Công an thị xã S ra quyết định xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Vũ Ngọc T.

Chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA màu xám bạc đen, BKS 33N8-8316 Công an thu giữ khi bắt quả tang, qua trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Ngọc H, là bố đẻ C. Sáng ngày 05/01/2024 C mượn xe đi, ông H không biết C đi đâu, làm gì. Xác định là tài sản không liên quan vụ án.

Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an T1; số tiền 300.000đ; 02 điện thoại di động được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật và 01 xe moto BKS 33N8-8316.

Bản Cáo trạng số: 40/CT-VKS ngày 15/04/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố Hoàng Minh C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hoàng M về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Minh C từ 27 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an thành phố T1; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000₫ và 02 điện thoại di động; Trả lại cho ông Hoàng Ngọc H 01 xe mô tô BKS 33N8-8316. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo và lời khai của những người có liên quan tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/01/2024 tại đường đôi khu đo thị Hud thuộc tổ dân phố C N, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội, Hoàng Minh C có hành vi bán trái phép 0,062 gam ma túy loại Methamphetamine cho Vũ gọc Trực thì bị Công an thị xã S phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy; về nhân thân năm 2013 đã bị Công an phường L, thị xã S xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần có hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không có khả năng và điều kiện về kinh tế để thi hành án, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an thành phố T1. Số tiền 300.000₫ là tiền C bán ma túy cho T nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng thu giữ của bị cáo, 01 điện thoại Nokia thu giữ của T, quá trình điều tra xác định T sử dụng điện thoại gọi cho C để mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, BKS 33N8-8316, đây là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Ngọc H là bố đẻ của bị cáo. Việc bị cáo C mượn xe đi đâu làm gì, ông H không biết nên cần trả lại xe máy cho ông Hoàng Ngọc H.

[6]. Về nguồn gốc ma túy, Hoàng Minh C khai mua của người phụ nữ không biết tên, địa chỉ ở khu vực bến xe thị xã S. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có cơ sở để xác minh làm rõ.

[7]. Đối với Vũ Ngọc T là người có hành vi mua ma túy của Hoàng Minh C, tuy nhiên khối lượng ma túy không đủ xử lý hình sự, bản thân T chưa có tiền án, tiền sự, Cơ quan điều tra Công an thị xã S ra quyết định xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Vũ Ngọc T.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh C 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 05/01/2024.

2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an thành phố T1 trả lại sau giám định.

Tịch thu sung công số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, 01 điện thoại Nokia 105 vỏ màu đen.

Trả lại cho ông Hoàng Ngọc H 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, J đã cũ, BKS 33N8-8316. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Sơn tây và CQĐT Công an Thị xã S, thành phố Hà Nội. Số tiền nộp vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, tại Kho bạc Nhà nước thị xã S, theo ủy nhiệm chi ngày 17/4/2024 của Công an thị xã S).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo về những phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - CA, VKSNDthị xã S;
  • - CCTHADS thị xó S;
  • - Những ngời tham gia tố tụng;
  • - Lu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đặng Trung Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bc C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger