Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày: 18-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Dũng Nhân;

Ông Nguyễn Văn Thượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là điểm cầu trung tâm và Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh là điểm cầu thành phần xét xử công khai sơ thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Trọng N, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố P, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng M (chết) và bà Lê Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị L (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay (có mặt).
  2. Trần Bùi Đình K, sinh năm 2000 tại tỉnh Hậu Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K1 và bà Bùi thị M1; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 01/8/2023, bị Công an xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 305/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 2.500.000 đồng, chưa nộp phạt. Ngày 07/12/2023, bị Công an huyện P, tỉnh Hậu Giang khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N rủ K đi mua ma túy về sử dụng thì K đồng ý và điều khiển xe chở N đi đến khu vực thuộc xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh gặp người tên M2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Khi đến điểm hẹn, K đưa cho N 70.000 đồng để hùn tiền mua ma túy. Lúc này, N không đủ tiền để mua ma túy nên đã gọi điện thoại cho bạn của N tên P nhà ở tỉnh Bình Dương để mượn 500.000 đồng và nhờ P chuyển thẳng tiền vào tài khoản người bán ma túy mà M2 cung cấp thông qua tài khoản Momo. Sau khi chuyển tiền xong, M2 điều khiển xe chở N đi lấy ma túy. Sau khi mua được ma túy, N đưa cho M2 70.000 đồng tiền công rồi cùng với K điều khiển xe quay về nhà trọ đang thuê của bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1966 tại ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh để sử dụng ma túy. N vào nhà lấy chai nước, ống nhựa và nỏ thủy tinh làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy, sau đó lấy bịch ma túy vừa mua được đổ ma túy vào nỏ đốt lên sử dụng cùng với K. Lúc này, cùng ở chung phòng trọ còn có Phạm Văn T sinh năm 2004, Dương Thanh T1 sinh năm 1981, Nguyễn Hồng T2 sinh năm 1993, Nguyễn Văn C sinh năm 2004, nhìn thấy N và K sử dụng ma túy nên T, T2, T1, và C đến xin sử dụng chung, thì N, K đồng ý; sau khi sử dụng hết ma túy thì tất cả đi ngủ. Đến trưa ngày 21/01/2024, Công an xã S kiểm tra, phát hiện lập biên bản ghi nhận vụ việc, tạm giữ vật chứng có liên quan và tiến hành mời về Công an xã S làm rõ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, N và K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 170/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu 01 nỏ thủy tinh chứa chất tinh thể màu nâu (kí hiệu M) bên trong bì thư gửi đến giám định có chất ma túy; loại Methamphetamine; không xác định được khối lượng vì mẫu ở dạng vì vết.

Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 21/01/2024 đối với Nguyễn Trọng N, Trần Bùi Đình K, Nguyễn Văn C, Dương Thanh T1, Nguyễn Hồng T2, Phạm Văn T, thể hiện: Tất cả điều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKSTC ngày 07/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng N, Trần Bùi Đình K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng N, Trần Bùi Đình K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Nguyễn Trọng N, Trần Bùi Đình K mỗi bị cáo từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo N không nói lời nói sau cùng; bị cáo K xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trọng N, Trần Bùi Đình K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Vào ngày 20/01/2024, tại nhà trọ cho thuê của bà Nguyễn Thị S thuộc ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo N và bị cáo K đã cùng nhau hùn tiền mua ma túy và tổ chức cho bản thân hai bị cáo và cho anh Phạm Văn T, anh Dương Thanh T1, anh Nguyễn Hồng T2, anh Nguyễn Văn C sử dụng trái phép thì bị phát hiện. Chất ma túy các bị cáo N, K tổ chức sử dụng trái phép thu giữ được là loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng vì mẫu ở dạng vi vết. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Trọng N, Trần Bùi Đình K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của xã hội, làm lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, làm suy đồi, băng hoại một bộ phận dân cư, đặc biệt là thanh thiếu niên, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển giống nòi dân tộc. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề hết sức phức tạp, nhức nhối của xã hội, tiêu tốn nhiều tiền của, công sức của Nhà nước để giải quyết những hậu quả của tệ nạn này. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy rằng:

[4.1] Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, trong đó: Bị cáo Nghĩa là người chủ động khởi xướng, rủ bị cáo K hùn tiền mua ma túy, tự bỏ ra 500.000 đồng để hùn mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, đổ ma túy ra cho K và Phạm Văn T, Dương Thanh T1, Nguyễn Hồng T2, Nguyễn Văn C sử dụng, có vai chính nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo K.

[5] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[5.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.

[6] Xét thấy, bị cáo Nghĩa là người khởi xướng, bị cáo K có nhân thân xấu nên với hành vi phạm tội như trên của các bị cáo cần xử phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo vì các bị cáo không có tài sản.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

[8.1] Đối với: 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa, 02 đoạn ống hút nhựa, 01 quẹt gaz thu giữ của bị cáo Nghĩa là các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8.2] Đối với: 01 điện thoại Samsung số Imei 455276, 01 điện thoại Nokia số Imei 545348 thu giữ của các bị cáo N, K đều là công cụ phạm tội, cần tịch thu vào Ngân sách nhà nước.

[9] Đối với bà Nguyễn Thị S cho N, K, T1, C, T, T2 thuê phòng trọ để ở đi làm, bà S không biết N và K sử dụng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là đúng quy định pháp luật.

[10] Đối với các anh Nguyễn Văn C, Phạm Văn T, Dương Thanh T1, Nguyễn Hồng T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chuyển cho Công an xã S, huyện T xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

[11] Đối với người tên M2 đã bán trái phép chất ma túy cho K và N, do K và N khai không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tiến hành làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/01/2024.
    2. Xử phạt bị cáo Trần Bùi Đình K 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/01/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    1. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 bì thư được niêm phong ghi số 170, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T3, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Q và dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh T, bên trong có 01 nỏ thủy tinh không chứa gì; 01 chai nhựa; 02 đoạn ống hút nhựa; 01 quẹt gaz.
    2. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Samsung số Imei 455276 và 01 điện thoại Nokia số Imei 545348.

    (Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2024).

  3. Về án phí: Căn cứ và o Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Trọng N, Trần Bùi Đình K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND H.Tân Châu;
  • - CCTHA-DS H. Tân Châu;
  • - CQĐT Công an H. Tân Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV 06;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - THA phạt tù;
  • - Lưu tập án, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Chung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng Ng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger