|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 53/2023/HSST
Ngày: 17-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông: Đoàn Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Dũng
Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Néang Ly, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 10 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Chau Qui, sinh ngày 13-6-2004, tại huyện T, tỉnh An Giang;
Nơi cư trú: ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; Con ông Phạm Văn G (chết) và bà Neáng Sà R; chưa có vợ, con; Anh em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; nhân thân: Không; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-5-2023 đến nay, có mặt.
2. Sôi Si Hênh, sinh ngày 18-02-2003, tại huyện T, tỉnh An Giang;
Nơi cư trú: Ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; Con ông Chau S và bà Neáng C; chưa có vợ con; Anh em có 05 người, bị cáo là người thứ 4; nhân thân: Không; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26-9-2023 đến nay, có mặt.
Người chứng kiến:
Ông Mai Văn X, sinh năm 1949; nơi cư trú: Khóm H, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
Người phiên dịch: Ông Kim S1, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ, ngày 12-11-2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma tuý – Công an huyện T phối hợp cùng Công an thị trấn Cô Tô đến phòng số 01 nhà trọ “Xuân Nga” thuộc khóm H, T, huyện T (do ông Mai Văn X làm chủ) phát hiện Chau Qui, Sôi Si H cùng Chau Vanh N đang ở phòng trọ có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra phát hiện 01 bọc nilon hàn kính chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý) để trong bao thuốc lá hiệu Hero gần chổ Qui ngồi nên đưa về trụ sở cùng vật chứng. Qua làm việc, Q và H đều khai do cùng nghiện ma tuý nên khoảng 15 giờ cùng ngày, Q và H rủ nhau đi mua ma tuý sử dụng, H điều khiển xe mô tô 67N1-328.54 chở Q đến khu vực “Suối Vàng” thuộc xã N, huyện T, Q gặp S2 (chưa rõ, họ, địa chỉ) mua 01 bọc ma tuý giá 500.000 đồng, rồi cả hai chạy xe về phòng trọ “X”, Qui cắt một phần ma tuý sử dụng cùng H, khi thấy Q và H sử dụng xong còn dư một ít trên giấy bạc nên Na tự lấy sử dụng. Đối với số ma tuý còn lại, Qui hàn kín giấu trong hộp thuốc lá để trên bàn, mục đích dành sử dụng thì lực lượng Công an đến kiểm tra, Q và H1 khai nhận hành vi phạm tội và tự giao nộp số ma tuý còn lại.
Ngày 15-3-2023 Q bị khởi tố và tạm giam để điều tra, đến ngày 25-9-2023, H1 bị khởi tố và bắt tạm giam.
Vật chứng thu giữ:
- + 01 bọc nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý);
- + 01 điện thoại di động hiệu OPPO A16K màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu xanh đã qua sử dụng (thu giữ của Q);
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa:
Các bị cáo Chau Q1 và Sôi Si H khai nhận: Cả hai cùng nghiện ma tuý nên cùng đi mua về và sử dụng chung. Na tự ý lấy phần còn dư để sử dụng, Q1 và H không lôi kéo, ép buộc N sử dụng ma tuý. Việc H lấy xe của N đi mua ma tuý thì N không biết.
Chanh Vanh N khai: Na đến phòng số 1 nhà trọ “X”, thấy Q1 và H sử dụng ma tuý xong còn dư một ít trên giấy bạc, Na lấy sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện và đưa về trụ sở làm việc.
Căn cứ Kết luận giám định số 205/KL-KTHS(MT-GT) ngày 04/12/2022 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: 01 (một) bọc nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1279 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định.
Bản cáo trạng số 48/CT-VKSTT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố các bị cáo Chau Q1 và Sôi Si H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Chau Q1 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Sôi Si H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Hình phạt bổ sung: Nhận thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý:
Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 205/KL-KTHS) có in hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Đặng Thái Q2. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, tổng khối lượng: 0,0899 gam. Đây là chất ma túy, loại hàng hoá cấm lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy;
Đối với điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu xanh thu giữ của bị cáo Q1. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để liên hệ mua ma túy nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với điện thoại di động hiệu OPPO A16K, màu đen thu giữ của bị cáo Q1, qua điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Việc Q1 và H khai mua ma túy của đối tượng tên S2 chưa rõ họ, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với Chau Vanh N khai do bị cáo Q1 rủ sử dụng ma túy, còn Q1 và H cho rằng Na tự vào sử dụng, Q1 không rủ rê, lôi kéo, không thu lợi trong việc sử dụng ma túy. Hiện N không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai của N không còn chứng cứ khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không xem xét hành vi chứa chấp, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Các bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Do Q1 và H cùng nghiện ma tuý nên H điều khiển xe mô tô 67N1 - 328.54 đến khu vực “Suối Vàng” xã N gặp 01 người nam tên S2 (không rõ họ, địa chỉ) mua 01 bọc ma túy với giá 500.000 đồng, sau đó điều khiển xe về phòng trọ “Xuân Nga” để sử dụng. Chau Vanh N đến thấy còn dư một ít ma tuý trên giấy bạc nên tự sử dụng, Q1 và H không lôi kéo, rủ N sử dụng.
[3] Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà các bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra và cũng phù hợp với lời khai của người chứng kiến cũng như kết luận giám định số 205 ngày 04-12-2022 của Phòng K Công an tỉnh A cùng các chứng cứ khác trong quá trình điều tra đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 12-12022, Sau khi mua ma tuý tại khu vực “Suối Vàng” các bị cáo về phòng trọ “Xuân N1” lấy ra một ít để sử dụng, số ma túy còn lại hàn kín cho vào bao thuốc lá Hero để trên bàn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, khám xét thu giữ ma túy. Loại ma tuý mà các bị cáo mua để sử dụng là Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,1279 gam. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, có ý thức khi thực hiện hành vi phạm tội, dù biết rằng ma túy là một tệ nạn xã hội bị nhà nước nghiêm cấm, mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng... trái phép chất ma túy đều là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà các bị cáo sẵn sàng thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả xảy ra.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, tạo sự lo lắng bất an trong quần chúng nhân dân. Xét về nhân thân, các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe, lẽ ra các bị cáo phải biết phấn đấu cải tạo, rèn luyện bản thân trở thành người hữu dụng, giúp ích cho gia đình và xã hội, trái lại các bị cáo lao vào nghiện ngập, không chí thú làm ăn. Trong vụ án này, các bị cáo đều nghiện ma tuý, Q1 rủ H đi mua ma túy để cùng sử dụng và Q1 là người bỏ ra 500.000 đồng để mua ma tuý. Cần phải áp dụng một chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khan về kinh tế nên am hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo Q1 có bà ngoại là người có công với cách mạng, nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 205/KL-KTHS) có in hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Đặng Thái Q2. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, tổng khối lượng: 0,0899 gam. Đây là chất ma túy, loại hàng hoá cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu xanh thu giữ của bị cáo Q1. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để liên hệ mua ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với điện thoại di động hiệu OPPO A16K, màu đen thu giữ của bị cáo Q1, qua điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
Việc Q1 và H khai mua ma túy của đối tượng tên S2 chưa rõ họ, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với Chau Vanh N khai do bị cáo Q1 rủ sử dụng ma túy, còn Q1 và H cho rằng Na tự vào sử dụng, Q1 không rủ rê, lôi kéo, không thu lợi trong việc sử dụng ma túy. Hiện N không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai của N không còn chứng cứ khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không xem xét hành vi chứa chấp, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Chau Q1 và Sôi Si H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Chau Q1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02-5-2023 (ngày hai, tháng năm, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Xử phạt bị cáo Sôi Si H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 26-9-2023 (ngày hai mươi sáu, tháng chín, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Căn cứ vào Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 205/KL-KTHS) có in hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Đặng Thái Q2. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, tổng khối lượng: 0,0899 gam.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu xanh đã qua sử dụng.
Trả cho bị cáo Chau Q1 01 điện thoại di động hiệu OPPO A16K, màu đen đã qua sử dụng.
(Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý, theo biên bản giao nhận ngày 17/11/2023 của Cơ quan điều tra Công an huyện T).
Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;
Các bị cáo Chau Q1 và Sôi Si H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Hùng |
Bản án số 53/2023/HSST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN - TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
