|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/DS-PT Ngày 17-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tiền |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
|
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: |
|
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Lưu Văn Tỉnh |
|
Các Thẩm phán: |
Bà Bùi Thị Thúy Hà Bà Bùi Thị Thu Hằng |
|
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. |
|
|
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. |
|
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 26/2024/TLPT- DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tiền.
Do Bản án sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của TAND huyện An Lão bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 40/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Bị đơn: Ông Đào Văn Q, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1977; cùng địa chỉ: Số B N, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng, đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị T và bị đơn ông Đào Văn Q, bà Nguyễn Thị A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 10 năm 2023, Đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 15 tháng 12 năm 2023, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Ngày 10-4-2017, bà Nguyễn Thị A trực tiếp vay tiền 120.000.000 đồng của bà, nhưng không thỏa thuận bằng văn bản về lãi suất. Bà A trả tiền 5 lần vào các ngày 31-8-2018 trả 10.000.000 đồng; ngày 22-8- 2018 trả 10.000.000 đồng; ngày 17-9-2018 trả 10.000.000 đồng; ngày 31-01-2019 trả 10.000.000 đồng; ngày 10-9- 2019 trả 50.000.000 đồng. Bà A tự viết vào sổ của bà A, bà T tin tưởng nên không viết giấy nhận tiền bà A trả. Khoảng cuối năm 2019, bà đến nhà gặp bà A rồi lấy sổ của bà A do bà cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa, bà yêu cầu bà Nguyễn Thị A phải thanh toán tiền nợ gốc 30.000.000 đồng theo giao dịch vay tiền ngày 10-4- 2017.
Ông Đào Văn Q vay tiền cá nhân với số tiền 200.000.000 đồng của bà theo Khế ước vay tiền ngày 17-6-2014, (thực tế lãi suất 3%/tháng), nhưng không ghi lãi suất vào trong Khế ước. Ông Q nhận đủ tiền 200.000.000 đồng, nhưng chưa trả tiền nợ gốc, nợ lãi nên đến ngày 10-12-2017, bà và ông Q thống nhất tính tiền lãi chưa thanh toán của K ước vay tiền ngày 17-6-2014 là 80.000.000 đồng. Bà và ông Q thỏa thuận Khế ước vay tiền ngày 10-12-2017 với nội dung: Đào Văn Q vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 2,5%/năm, kỳ hạn từ 10-12-2017 đến 10-12-2018. Bà và ông Q chưa hỏi ý kiến của bà Nguyễn Thị A (là vợ của ông Đào Văn Q) về việc bà A vay riêng 120.000.000 đồng của bà, cộng gộp với số tiền vay của ông Q theo K ước vay tiền ngày 17-6-2014. Tại phiên tòa, bà yêu cầu ông Đào Văn Q phải thanh toán cho bà tính đến ngày xét xử sơ thẩm đối với K ước vay tiền ngày 10-12-2017 với tổng số tiền là 630.000.000 đồng; trong đó: 200.000.000 đồng tiền nợ gốc + 80.000.000 đồng tiền lãi (tính từ ngày 17-6-2014 đến ngày 10-12-2017) + 350.000.000 đồng tiền lãi (tính từ ngày 10-12-2017 đến ngày 28-3-2024).
Ông Đào Văn Q vay tiền cá nhân một lần 700.000.000 đồng, lần hai 400.000.000 đồng của bà, nhưng không lập văn bản. Ông Q thanh toán cho bà 300.000.000 đồng tiền lãi và cả hai cũng không ghi giấy tờ. Sau đó, bà và ông Q thỏa thuận lập Khế ước vay tiền ngày 25-11-2017 với nội dung: Đào Văn Q vay của bà số tiền 1.100.000.000 đồng, lãi suất 2%, sau đó bà tự sửa là 3%/năm, kỳ hạn từ 25-11-2017 đến 25-12-2017. Tại phiên tòa, bà yêu cầu ông Đào Văn Q phải thanh toán cho bà tính đến ngày xét xử sơ thẩm đối với K ước vay tiền ngày 25-11- 2017 với tổng số tiền 3.190.000.000 đồng; trong đó: tiền nợ gốc 1.100.000.000 đồng + tiền nợ lãi 2.090.000.000 đồng.
Bị đơn ông Đào Văn Q, bà Nguyễn Thị A đều vắng mặt tại các phiên họp, phiên tòa và không trình bày ý kiến về các giao dịch vay tiền, nhưng đều đề nghị Tòa án xem xét đình chỉ vụ án do hết thời hiệu khởi kiện.
Tại Bản án sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của TAND huyện An Lão đã:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 188, Điều 161, điểm b, c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228,
2
khoản 2 Điều 229, các điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 466, 469, 470, các điều 151, 154, 163, 169, 429 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 5, các điều 6, 9, 13 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T.
Buộc Ông Đào Văn Q thanh toán cho bà Lê Thị T số tiền 1.300.000.000 đồng (Một tỉ, ba trăm triệu đồng), trong đó: tiền nợ gốc 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) theo Khế ước vay tiền ngày 10 tháng 12 năm 2017 và 1.100.000.000 đồng (một tỉ, một trăm triệu đồng) theo Khế ước vay tiền ngày 25 tháng 11 năm 2017.
Bà Nguyễn Thị A thanh toán cho bà Lê Thị T số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) theo Giao dịch vay tiền ngày 10 tháng 4 năm 2017.
2. Đình chỉ giải quyết một phần vụ án dân sự về yêu cầu của bà Lê Thị T buộc ông Đào Văn Q thanh toán tiền lãi 430.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi triệu đồng) theo Khế ước vay tiền ngày 10 tháng 12 năm 2017 và tiền lãi 2.090.000.000 đồng (hai tỉ, không trăm chín mươi triệu đồng) theo Khế ước vay tiền ngày 25 tháng 11 năm 2017.
Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 16/4/2024 nguyên đơn bà Lê Thị T kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải trả 2.442.700.000 đồng tiền lãi và 1.500.000.000 đồng tiền nợ gốc.
- Ngày 24/4/2024 bị đơn ông Đào Văn Q và bà Nguyễn Thị A kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì các khoản vay đã được ông bà thanh toán hết cho bà T, hai bên không còn khoản nợ nào khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Lê Thị T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
3
Bị đơn ông Đào Văn Q và bà Nguyễn Thị A vắng mặt, và trình bày việc bà T đòi vợ chồng ông số tiền 3.942.000.000 đồng là không có thật, không có căn cứ. Trước đây bà T và ông Q có góp vốn làm ăn nhưng đến năm 2017 hai bên đã thanh toán chốt nợ, không ai nợ ai. Vì vậy ông đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện, bác yêu cầu của bà T.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Kiểm sát viên phân tích các tình tiết của vụ án, đánh giá chứng cứ, nhận định bản án Toà án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ đúng pháp luật. Các khoản tiền lãi tính đến ngày khởi kiện đã hết thời hiệu nên không có căn cứ xem xét. Riêng khoản tiền 80.000.000 tiền lãi hai bên đã thoả thuận cùng nhau xác nhận tại khế ước vay 10/12/2017 do vậy số tiền 80.000.000 đồng được tính là tiền gốc nên có căn cứ chấp nhận buộc bị đơn ông Q phải trả cho bà T.
Đối với kháng cáo của bị đơn ông Đào Văn Q và bà Nguyễn Thị A bản án sơ thẩm đã xác định các khoản nợ gốc của bà A ông Q là có căn cứ pháp luật, ông Q bà A khai đã trả hết cho bà T nhưng không có căn cứ chứng minh. Tại phiên toà phúc thẩm không có tình tiết gì mới nên không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T khởi kiện vợ chồng ông Đào Văn Q, bà Nguyễn Thị A đều cư trú tại huyện A, thành phố Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng vay tiền. Tòa án nhân dân huyện An Lão thụ lý, giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tiền là có căn cứ, theo quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị T và bị đơn ông Đào Văn Q, bà Nguyễn Thị A đúng quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Về việc vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa bị đơn ông Q, bà A vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn ông Đào Văn Q, bà Nguyễn Thị A.
4
Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Lương Văn L, sinh năm 1963; địa chỉ: T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Theo Giấy ủy quyền ngày 25/5/2024, tại phiên toà bà T có quan điểm không uỷ quyền cho ông L, xét quan điểm của bà T là tự nguyện không trái pháp luật nên chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn ông Đào Văn Q và bà Nguyễn Thị A:
Tại Kết luận giám định số 392/KL-KTHS ngày 23-02-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, đủ cơ sở xác định: Bà Nguyễn Thị A viết vay tiền 120.000.000 đồng của bà Lê Thị T vào ngày 10-4-2017 thể hiện trong Sổ theo dõi vay mượn của bà Nguyễn Thị A.
Theo Kết luận giám định số số 392/KL-KTHS ngày 23-02-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H xác định ông Đào Văn Q ký nhận vay tiền của bà Lê Thị T trong Khế ước vay tiền ngày 10-12-2017 và K ước vay tiền ngày 25-11-2017 với tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng.
Kết luận giám định chữ ký và chữ viết của ông Q, bà A theo khế ước vay tiền phù hợp với lời khai của bà Lê Thị T và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định bà Nguyễn Thị A vay tiền của bà Lê Thị T 120.000.000 đồng và ông Đào Văn Q vay tiền của bà Lê Thị T tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng.
Tài liệu trong hồ sơ có căn cứ xác định bà A đã trả bà T tổng số 90.000.000 đồng còn nợ 30.000.000 đồng. Đối với khoản vay 400.000.000 đồng của khế ước vay tiền ngày 10-12-2017 thực chất ông Q nợ vay tiền nợ gốc 200.000.000 đồng (theo Khế ước vay tiền ngày 17-6-2014) + 80.000.000 đồng tiền lãi (của K ước vay tiền ngày 17-6-2014 tính lãi từ ngày 17-6-2014 đến ngày 10-12-2017) + 120.000.000 đồng của bà A vay (được bà T xác định giao dịch riêng giữa bà T và bà A theo Giao dịch vay tiền ngày 10-4-2017, không liên quan ông Q). Bởi vậy, cần xác định Giao dịch vay tiền theo Khế ước vay tiền ngày 10-12-2017 giữa ông Đào Văn Q và bà Lê Thị T là giao dịch vay tài sản có kỳ hạn, có lãi suất 2,5%/năm, kỳ hạn từ 10-12-2017 đến 10-12-2018, với số tiền cho vay là 200.000.000 đồng, 80.000.000 đồng tiền lãi. Ông Q chưa thanh toán tiền nợ gốc, tiền lãi. Căn cứ Điều 163, 166 của Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Q phải thanh toán cho bà T tiền nợ gốc 200.000.000 đồng. Đối với số tiền 80.000.000 đồng là tiền lãi của khoản vay 200.000.000 đồng tính đến ngày khởi kiện đã hết thời hiệu nên không xem xét. Án sơ thẩm tuyên buộc bà Nguyễn Thị A trả cho bà Lê Thị T số tiền 30.000.000 đồng tiền gốc, buộc ông Đào Văn Q phải trả bà Lê Thị T, 1.300.000.000 đồng tiền gốc là có căn cứ đúng pháp luật. Ông Q bà A có quan điểm đã thanh toán hết các khoản đối với bà T, nhưng ngoài lời khai thì ông Q bà A không có tài liệu nào chứng minh, do vậy kháng cáo của ông Q bà A không có căn cứ chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị T:
5
[5.1] Xét yêu cầu trả nợ gốc đối với số tiền 400.000.000 đồng theo Khế ước ngày 10/12/2017
Như phân tích tại mục [4] khế ước ngày 10/12/2017 giữa ông Đào Văn Q và bà Lê Thị T thể hiện số tiền vay 400.000.000 đồng nhưng thực chất 200.000.000 đồng tiền gốc và 80.000.000 đồng tiền nợ lãi của Khế ước ngày 17-6-2014 và 120.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị A vay riêng nhưng ông Q và bà T tự ý gộp vào khế ước vay ngày 10/12/2017.
Hội đồng xét xử xét 120.000.000 đồng là giao dịch riêng giữa bà T và bà A bà T đã khởi kiện và Toà án đã thụ lý và giải quyết cùng vụ án này nên không có căn cứ xác định ông Q vay bà T số tiền này. Số tiền 80.000.000 đồng là tiền lãi của khoản vay 200.000.000 đồng từ năm 2014 đến năm 2017, đến thời điểm khởi kiện đã hết thời hiệu nên cấp sơ thẩm đã đình chỉ không xem xét là có căn cứ. Như vậy đối với khế ước vay tiền ngày 10/12/2017 giữa bà T và ông Q cấp sơ thẩm xác định số tiền ông Q phải trả bà T là 200.000.000 đồng là có căn cứ đúng pháp luật.
Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị T đối với yêu cầu buộc bị đơn ông Đào Văn Q phải trả số tiền 400.000.000 đồng nợ gốc theo Khế ước vay nợ ngày 10/12/2017.
[5.2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị T về việc buộc bị đơn phải trả 2.442.700.000 đồng tiền lãi:
Ngày 31-10-2023, bà Lê Thị T khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện An Lão nhận được Đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 10 năm 2023 của bà Lê Thị T được xác định thời điểm khởi kiện.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng về thời hạn khởi kiện đối với tiền lãi theo Khế ước ngày 25/11/2017 đến ngày 31/10/2023 là 05 năm 10 tháng 05 ngày và theo Khế ước ngày 10/12/2017 đến ngày 31/10/2023 là 04 năm 10 tháng 20 ngày.
Căn cứ Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015quy định: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trong đó trừ các trường hợp theo Điều 155 Bộ luật Dân sự không áp dụng về thời hiệu). Như vậy, yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T về khoản tiền lãi đã hết thời hiệu, do đó không chấp nhận kháng cáo về khoản tiền lãi đối với Khế ước ngày 25/11/2017 và Khế ước ngày 10/12/2017 của nguyên đơn bà Lê Thị T.
[6] Từ những phân tích nêu trên, Hội xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị T, kháng cáo của bị đơn ông Đào Văn Q và bà Nguyễn Thị A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
6
QUYẾT ĐỊNH:
[7] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Lê Thị T và bị đơn ông Đào Văn Q, bà Nguyễn Thị A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[8] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị T, kháng cáo của bị đơn ông Đào Văn Q và bà Nguyễn Thị A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 188, Điều 161, điểm b, c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229, các điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 466, 469, 470, các điều 151, 154, 163, 169, 429 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T.
Buộc ông Đào Văn Q phải trả bà Lê Thị T số tiền 1.300.000.000 đồng (Một tỉ ba trăm triệu đồng), trong đó: Tiền nợ gốc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) theo Khế ước vay tiền ngày 10 tháng 12 năm 2017 và 1.100.000.000 đồng (Một tỉ một trăm triệu đồng) theo Khế ước vay tiền ngày 25 tháng 11 năm 2017.
Buộc bà Nguyễn Thị A phải trả bà Lê Thị T số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) theo Giao dịch vay tiền ngày 10 tháng 4 năm 2017.
- Đình chỉ giải quyết một phần vụ án dân sự về yêu cầu của bà Lê Thị T buộc ông Đào Văn Q thanh toán tiền lãi 430.000.000 đồng (Bốn trăm ba mươi triệu đồng) theo Khế ước vay tiền ngày 10 tháng 12 năm 2017 và tiền lãi 2.090.000.000 đồng (Hai tỉ không trăm chín mươi triệu đồng) theo Khế ước vay tiền ngày 25 tháng 11 năm 2017.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí và chi phí Tố tụng:
Ông Đào Văn Q phải nộp 51.000.000 đồng (Năm mươi mốt triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm, bà Nguyễn Thị A phải nộp 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lê Thị T, ông Đào Văn Q và bà Nguyễn Thị A mỗi người phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Bà T đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Biên lai số 007369 ngày 19/4/2024; ông Q đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Biên lai số 007379 ngày 24/4/2024; bà A đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Biên lai số 007380 ngày 24/4/2024 nên bà T, ông Q và bà A không phải nộp nữa.
Trả lại bà Lê Thị T số tiền tạm ứng án phí là 54.030.000 đồng (Năm mươi bốn triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005804 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Ông Đào Văn Q phải hoàn trả bà Lê Thị T số tiền tạm ứng chi phí tố tụng giám định 4.428.000 đồng (bốn triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị A phải hoàn trả bà Lê Thị T số tiền tạm ứng chi phí tố tụng giám định 102.000 đồng (một trăm linh hai nghìn đồng).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: - Các đương sự (để thi hành); - VKSND thành phố Hải Phòng; - TAND huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
8
Bản án số 53/2024/DS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng vay tiền
- Số bản án: 53/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tiền
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thiết - quang
