|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 17-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Sơn Ken
Ông Ngô Văn Chiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở, Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 59/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo Lê Văn T, sinh ngày 01/01/1980, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở hiện tại ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P, sinh năm 1938 (chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1940; bị cáo có vợ tên Lê Thị Đ, sinh năm 1985 và 01 người con sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi dùng nhà ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc trái phép. Vào ngày 27/02/2023, bị Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 506/QĐ-XPHC với số tiền 7.500.000 đồng chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; nhân thân: bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào khác; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 10/3/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 30/5/2024; có mặt.
- Bị cáo Phạm Văn T1 (Phạm Hoàng T2), sinh ngày 06/4/1985, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hải Đ1, sinh ngày 01/01/1959 và bà Lê Thị T3, sinh ngày 19/8/1964; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Có 01 tiền án về tội đánh bạc, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt tiền 5.000.000 đồng theo Bản án số: 40/2011/HSST ngày 10/11/2011 chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; nhân thân: chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào khác; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 10/3/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 30/5/2024; có mặt.
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1976. Nơi cư trú ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Ông Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1982. Nơi cư trú ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Ông Lê Văn B, sinh năm 1989. Nơi cư trú ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Ông Tăng Văn N, sinh năm 2002. Nơi cư trú ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1979. Nơi cư trú ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 02/3/2024, Công an xã L tiến hành kiểm tra và phát hiện nhiều đối tượng đang tham gia đánh bạc tại quán nước giải khát của bà T4 thuộc ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh dưới hình thức chơi bài cào 03 lá (đếm nút) thắng thua bằng tiền, về hình thức chơi là mỗi ván mỗi người đặt cược 10.000 đồng trên chiếu bạc, người nào có số nút lớn thì thắng và chia bài cho ván tiếp theo. Sau đó, mời các đối tượng về trụ sở Công an để làm việc gồm: Bị cáo Lê Văn T; bị cáo Phạm Văn T1; ông Nguyễn Văn Đ2, sinh ngày 01/01/1976; ông Nguyễn Văn Đ3, sinh ngày 18/6/1982 và ông Lê Văn B, sinh ngày 01/01/1989 cùng nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Tại Cơ quan Công an các đối tượng đã thừa nhận toàn bộ hành vi và sử dụng số tiền để đánh bạc, cụ thể như sau:
- Bị cáo Lê Văn T: Khai nhận mang theo và sử dụng số tiền 130.000 đồng vào mục đích đánh bạc, T tham gia liên tục nhiều ván, mỗi ván đặt cược 10.000 đồng. Kết quả khi Công an kiểm tra, thì bị cáo thua số tiền 40.000 đồng, còn lại 90.000 đồng. Tạm giữ từ bị cáo số tiền 90.000 đồng.
- Bị cáo Phạm Văn T1: Khai nhận mang theo và sử dụng số tiền 100.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván, mỗi ván đặt cược 10.000 đồng. Kết quả khi Công an kiểm tra, thì bị cáo hòa (không thắng, không thua) còn lại 100.000 đồng. Tạm giữ từ bị cáo số tiền 100.000 đồng.
- Nguyễn Văn Đ2: Khai nhận mang theo và sử dụng số tiền 290.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván, mỗi ván đặt cược 10.000 đồng. Kết quả khi Công an kiểm tra, thì Đ2 thua số tiền 30.000 đồng, còn lại 260.000 đồng. Tạm giữ từ Đoàn số tiền 260.000 đồng.
- Nguyễn Văn Đ3: Khai nhận mang theo và sử dụng số tiền 300.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván, mỗi ván đặt cược 10.000 đồng. Kết quả khi Công an kiểm tra, thì Đ3 thua số tiền 140.000 đồng, còn lại 160.000 đồng. Tạm giữ từ Đời số tiền 160.000 đồng.
- Lê Văn B: Khai nhận mang theo và sử dụng số tiền 180.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục nhiều ván, mỗi ván đặt cược 10.000 đồng. Kết quả khi Công an kiểm tra, thì B thắng số tiền 210.000 đồng, tổng số tiền Bé có được 390.000 đồng. Tạm giữ từ Bé số tiền 390.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền các bị cáo và các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.000.000 đồng. Bị cáo Lê Văn T có 01 tiền sự về hành vi dùng nhà ở, chổ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc trái phép. Vào ngày 27/02/2023, bị UBND huyện T, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 506/QĐ-XPHC với số tiền 7.500.000 đồng và chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo Phạm Văn T1 có 01 tiền án về tội đánh bạc, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xử phạt tiền 5.000.000 đồng theo Bản án số: 40/2011/HSST, ngày 10/11/2011 bị cáo T1 chưa chấp hành, chưa được xóa án tích.
Ngày 02/3/2024, các bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép (dưới hình thức chơi bài cào 03 lá đếm nút) thắng, thua bằng tiền với người khác, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Ngày 08/05/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm giữ số tiền đánh bạc của bị cáo Lê Văn T 90.000 đồng; bị cáo T1 100.000 đồng và 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; thân nhân các bị cáo thuộc diện có công cách mạng. Riêng bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết cần xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Đối với ông Lê Văn B, Nguyễn Văn Đ2 và Nguyễn Văn Đ3 tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, về nhân thân chưa ai có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Ngày 06/3/2024, Công an xã L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng nêu trên về hành vi đánh bạc trái phép quy định tại Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính Phủ mỗi đối tượng số tiền 1.500.000 đồng. Đồng thời, tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền của các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc.
Đối với địa điểm mà hai bị cáo và các đối tượng tham gia đánh bạc là quán nước giải khát của bà Nguyễn Thị T4. Qua điều tra, xác minh làm rõ việc hai bị cáo cùng với các đối tượng nêu trên tham gia đánh bạc tại quán nước giải khát của bà T4 là do hai bị cáo cùng với các đối tượng tự chọn và đến đánh bạc, không thông qua bà T4. Đồng thời, trong thời gian hai bị cáo và các đối tượng đánh bạc thì bà T4 không có mặt tại địa điểm đánh bạc và không hay biết việc hai bị cáo và các đối tượng tham gia đánh bạc thắng, thua bằng tiền với nhau. Do đó, không xem xét xử lý đối với bà T4.
Tại Cáo trạng số 56/CT-VKS-HS, ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Lê Văn T và bị cáo Phạm Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 trình bày: Thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc trái phép cá cược thắng, thua bằng tiền (dưới hình thức chơi bài cào 03 lá đếm nút) cùng một số đối tượng khác thì bị Công an xã L phát hiện, tổng số tiền sử dụng đánh bạc bị tạm giữ là 1.000.000 đồng (trong đó bị cáo Lê Văn T sử dụng số tiền đánh bạc 130.000 đồng, bị cáo T1 sử dụng số tiền đánh bạc 100.000 đồng). Các bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 trình bày lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra là do các bị cáo tự nguyện khai ra mà không bị ai ép buộc hay dụ dỗ, các bị cáo không thay đổi lời khai.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn Đ2, ông Nguyễn Văn Đ3 và ông Lê Văn B trình bày có tham gia đánh bạc cùng với bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 như cáo trạng truy tố, tổng số tiền đánh bạc lúc công an phát hiện thu giữ 1.000.000 đồng. Trong thời gian hai bị cáo và những người làm chứng đánh bạc tại quán bà T4 thì bà T4 không có mặt tại địa điểm đánh bạc và không biết việc các bị cáo và những người làm chứng tham gia đánh bạc thắng, thua bằng tiền với nhau.
Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, vai trò, tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu huỷ 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách số tiền sử dụng đánh bạc tạm giữ của bị cáo Lê Văn T 90.000 đồng và của bị cáo Phạm Văn T1 100.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc mỗi bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin phạt tiền là hình phạt chính, các bị cáo hứa sẽ nghiêm chỉnh chấp hành bản án của Toà án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 là phù hợp với nhau, phù hợp với thời gian các bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của người làm chứng tham gia đánh bạc là ông Nguyễn Văn Đ2, ông Nguyễn Văn Đ3 và ông Lê Văn B và biên bản sự việc của Công an xã L lập ngày 02/3/2024, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng là 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng và số tiền sử dụng đánh bạc tạm giữ của bị cáo Lê Văn T 90.000 đồng và của bị cáo Phạm Văn T1 100.000 đồng, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ kết luận vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 02/3/2024, tại ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, các bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 đã có hành vi đánh bạc trái phép thắng, thua bằng tiền cùng một số đối tượng khác thì bị kiểm tra phát hiện, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc trên chiếu bạc thu giữ là 1.000.000 đồng.
[2] Hành vi của bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, đánh bạc trái phép là một trong các nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với lỗi cố ý trực tiếp. Động cơ, mục đích của các bị cáo là nhằm thu lợi bất chính. Tổng số tiền các bị cáo và ông Đ2, ông Đ3 và ông B cùng tham gia đánh bạc bằng 1.000.000 đồng, nhưng bị cáo Lê Văn T có 01 tiền sự về hành vi dùng nhà ở, chổ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc trái phép, ngày 27/02/2023, bị Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 506/QĐ-XPHC số tiền 7.500.000 đồng chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính). Bị cáo Phạm Văn T1 có 01 tiền án về tội đánh bạc, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xử phạt tiền 5.000.000 đồng theo Bản án số: 40/2011/HSST, ngày 10/11/2011 bị cáo T1 chưa được xóa án tích. Ngày 02/3/2024, các bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép (dưới hình thức chơi bài cào 03 lá đếm nút) thắng, thua bằng tiền với người khác, số tiền đánh bạc tuy dưới 5.000.000 đồng nhưng hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo T và bị cáo T1 lần này đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh, để các bị cáo thấy được sự nghiêm mình của pháp luật mà sửa chữa sai lầm, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa cho xã hội đối với những hành vi tượng tự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đều có nhiều người thân có công cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy số tiền các bị cáo dùng đánh bạc nhỏ, quy mô số người tham gia ít, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử không cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, nhưng cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính tương xứng với tính chất, mức độ của các bị cáo, tác động đến lợi ích kinh tế của các bị cáo, để các bị cáo sửa chữa hành vi sai trái của mình. Nếu tái phạm sẽ bị nghiêm trị.
[4] Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu huỷ 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách số tiền sử dụng đánh bạc tạm giữ của bị cáo Lê Văn T bằng 90.000 đồng và của bị cáo Phạm Văn T1 100.000 đồng.
[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Trong quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có ai khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Qua kiểm tra và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, được thu thập là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng là hình phạt chính.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng là hình phạt chính.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu huỷ 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách số tiền sử dụng đánh bạc tạm giữ của bị cáo Lê Văn T 90.000 đồng và của bị cáo Phạm Văn T1 100.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Văn T và Phạm Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Truyền |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Sơn Ken Ngô Văn Chiến |
Nguyễn Văn Truyền |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Tú đánh bạc
