|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/DS-ST Ngày 17-5-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Võ Quốc Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Chí Linh
Ông Trần Phi Hùng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2024/TLST – DS ngày 01 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử bổ sung số: 136/2024/QĐXXST - DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là S1)
Địa chỉ: Số B - B N, phường V, quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị Minh T, chức vụ: Chuyên viên khách hàng cá nhân là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, văn bản ủy quyền ngày 25/01/2024 (có mặt).
Địa chỉ: Số F L, khóm A, thị trấn T, T, Cà Mau
Bị đơn:
- Chị Nguyễn Cẩm L, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Anh Trần Văn Q, sinh năm 1975 (chồng chị L, có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị L1, sinh năm 1948 (mẹ anh Q, có mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, T, Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngày 20/6/2023, anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L đã ký hợp đồng tín dụng số [...] vay vốn tại ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C – Phòng G. Ngày 21/6/2023, anh Q, chị L đã ký giấy nhận nợ số LD2317200297, chi tiết như sau: Số tiền vay 320.000.000₫ (ba trăm hai mươi triệu đồng). Thời hạn vay 12 tháng. Mục đích vay vốn: Sản suất nông nghiệp. Lãi suất 03 tháng đầu tiên là 13%/năm, kể từ tháng thứ 4, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần, bằng lãi suất huy động 12 tháng trả lãi cuối kỳ của S1 cộng biên độ 3,2%/năm.
Tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp tài sản số 202305082106611, chị L, anh Q thế chấp cho S1 các tài sản sau: Toàn bộ thửa đất thửa số 691, tờ bản đồ số 19, diện tích 720m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 638310, số vào sổ cấp GCN: CH0730 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 09/4/2012, cập nhật nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 29/12/2017 chủ sở hữu là anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L đất tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ngày 25/01/2024, khoản vay của anh Q, chị L đã đến hạn thanh toán, mặc dù S1 đã nhắc nhở, thông báo nhiều lần và anh Q, chị L không thực hiện việc trả nợ đúng như cam kết. Do đó, S1 đã chuyển toàn bộ hồ sơ sang quá hạn từ tháng 01/2024. Tính đến ngày 17/5/2024, anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L còn nợ các khoản sau: Vốn 320.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn là 13.048.987 đồng, tổng cộng vốn và lãi 333.048.987 (ba trăm ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm tám mươi bảy đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L thanh toán: Tiền vốn 320.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn là 13.048.987 đồng, tổng cộng vốn và lãi 333.048.987 (ba trăm ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm tám mươi bảy đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 18/5/2024 đến khi thanh toán xong nợ cho S1.
Trường hợp, anh Q, chị L không thanh toán thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay để thu hồi nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Anh Trần Văn Q trình bày:
Anh thống nhất toàn bộ lời trình bày nói trên của đại diện S1. Anh thống nhất thanh toán cho S1 số tiền tính đến ngày 17/5/2024 như sau: Vốn 320.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn là 13.048.987 đồng, tổng cộng vốn và lãi 333.048.987 (ba trăm ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm tám mươi bảy đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 18/5/2024 đến khi thanh toán xong nợ cho S1. Trường hợp không thanh toán thì thống nhất xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho S1.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp cho chị Nguyễn Cẩm L nhưng chị không có ý kiến.
Bà Trần Thị L1 trình bày:
Tài sản anh Q, chị L thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần S hiện bà cùng với anh Q, chị L đang quản lý. Trường hợp anh Q, chị L không thanh toán thì bà thống nhất xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho S1.
Tại phiên tòa hôm nay:
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Q, chị L thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tính đến ngày 17/5/2024 như sau: Vốn 320.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn là 13.048.987 đồng, tổng cộng vốn và lãi 333.048.987 (ba trăm ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm tám mươi bảy đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 18/5/2024 đến khi thanh toán xong nợ cho S1. Trường hợp không thanh toán thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho S1.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tranh chấp giữa các đương sự nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm lần thứ hai nhưng chị L vắng mặt không có lý do căn. Cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đương sự này.
Về nội dung tranh chấp:
[1] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của anh Q thể hiện: Ngày 20/6/2023, anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L đã ký hợp đồng tín dụng số [...] vay vốn tại Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C – Phòng G số tiền 320.000.000₫ (ba trăm hai mươi triệu đồng). Mục đích vay vốn: Sản suất nông nghiệp. Lãi suất 03 tháng đầu tiên là 13%/năm, kể từ tháng thứ 4, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần, bằng lãi suất huy động 12 tháng trả lãi cuối kỳ của S1 cộng biên độ 3,2%/năm.
Chị L, anh Q có thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng thế chấp tài sản số 202305082106611 là đúng.
Tính đến ngày 17/5/2024, anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L còn nợ các khoản sau: Vốn 320.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn là 13.048.987 đồng, tổng cộng vốn và lãi 333.048.987 (ba trăm ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm tám mươi bảy đồng).
Do anh Q, chị L vi phạm nghĩa vụ thanh toán dẫn đến nợ quá hạn. Do đó, cần buộc anh Q, chị L có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền vốn và lãi tính đến ngày 17/5/2024 như sau: Vốn 320.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn là 13.048.987 đồng, tổng cộng vốn và lãi 333.048.987 (ba trăm ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm tám mươi bảy đồng) và khoản lãi phát sinh tính từ ngày 18/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký với S2.
Trường hợp, anh Q, chị L không thanh toán nợ thì xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 202305082106611 ngày 20/6/2023 theo quy định của pháp luật.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí, đại diện S1 đã nộp tạm ứng án phí nên được nhận lại. Anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L phải chịu án phí 16.652.000 đồng (làm tròn số).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S về việc yêu cầu anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L thanh toán nợ vay.
Buộc anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền vốn và lãi tính đến ngày 17/5/2024 như sau: Vốn 320.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn là 13.048.987 đồng, tổng cộng vốn và lãi 333.048.987 (ba trăm ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm tám mươi bảy đồng) và khoản lãi phát sinh tính từ ngày 18/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký với S2.
Trường hợp, anh Q, chị L không thanh toán nợ thì xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 202305082106611 ngày 20/6/2023 theo quy định của pháp luật.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: anh Trần Văn Q, chị Nguyễn Cẩm L phải chịu số tiền 16.652.000 đồng (mười sáu triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn đồng, làm tròn số).
Ngày 31/01/2024 đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần S nộp tạm ứng án phí số tiền 8.084.000 đồng (tám triệu không trăm tám mươi bốn nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015963 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quốc Văn |
Bản án số 53/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 53/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín về việc yêu cầu anh Trần Văn Quốc, chị Nguyễn Cẩm Lài thanh toán nợ vay. Buộc anh Trần Văn Quốc, chị Nguyễn Cẩm Lài có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền vốn và lãi tính đến ngày 17/5/2024 như sau: Vốn 320.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn là 13.048.987 đồng, tổng cộng vốn và lãi 333.048.987 (ba trăm ba mươi ba triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm tám mươi bảy đồng) và khoản lãi phát sinh tính từ ngày 18/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký với Sacobank. Trường hợp, anh Quốc, chị Lài không thanh toán nợ thì xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 202305082106611 ngày 20/6/2023 theo quy định của pháp luật. [2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: anh Trần Văn Quốc, chị Nguyễn Cẩm Lài phải chịu số tiền 16.652.000 đồng (mười sáu triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn đồng, làm tròn số). Ngày 31/01/2024 đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín nộp tạm ứng án phí số tiền 8.084.000 đồng (tám triệu không trăm tám mươi bốn nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015963 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
