|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/DS-PT
Ngày 17-4-2024
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Đắc Đương
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lực
Ông Đặng Văn Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng và cầm cố quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 20/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc B, sinh năm 1958; địa chỉ ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Út E, Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).
- Bị đơn: Bà Thạch Thị Sa R, sinh năm 1963; địa chỉ ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lâm Thành N, sinh năm 1965 (vắng mặt);
- Ông Sơn S, sinh năm 1990 (vắng mặt);
- Bà Lâm Thị T, sinh năm 1994; cùng địa chỉ ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Bà Trần Ngọc H, sinh năm 1982; địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Ông Trần Duy M, sinh năm 1986; địa chỉ ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Ông Trương Hữu P, sinh năm 1977; địa chỉ ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Ngân hàng N3- Chi nhánh huyện C- Phòng G (vắng mặt).
- Quỹ tín dụng nhân dân Vinh Kim- Phòng G1 (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Sơn S là bà Thạch Thị Sa R, sinh năm 1963; địa chỉ ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Ngọc H, ông Trần Duy M và ông Trương Hữu P: Bà Trần Ngọc B, sinh năm 1958; địa chỉ ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 24/12/2021, có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Trần Ngọc B là nguyên đơn, bà Thạch Thị Sa R là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn bà Trần Ngọc B trình bày: Vào năm 2012 bà Thạch Thị Sa R, ông Lâm Thành N có chuyển nhượng cho bà B diện tích 11.435m² gồm 02 thửa đất là thửa đất 1381 diện tích 5.957m² tờ bản đồ số 49 và thửa đất 1380 diện tích 5.766m² tờ bản đồ số 02, các thửa đất này tọa lạc tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh cụ thể như sau:
Ngày 11/10/2006 chuyển nhượng 5.000m² với giá là 55.000.000 đồng, ngày 21/12/2010 chuyển nhượng 3.000m² với giá là 51.000.000 đồng, ngày 16/4/2012 chuyển nhượng 3.500m² với giá là 68.000.000 đồng. Mỗi lần chuyển nhượng hai bên là có làm giấy tay do vợ chồng bà với ông N, bà Sa R ký tên. Bà Sa R giao đất cho bà làm từ năm 2012 nhưng không làm thủ tục tách thửa sang tên, bà có lấy đất cho ông Trương Hữu P thuê và hiện nay ông P không còn thuê nữa mà bà Sa R đã lấy đất lại làm, do bà mua đất của bà Sa R nên bà khởi kiện yêu cầu hộ bà Thạch Thị Sa R, ông Lâm Thành N phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc hai thửa đất 1381 diện tích 5.957m² và thửa đất 1380 diện tích 5.766m² đất tọa lạc tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Ngọc B có đơn xin rút lại thửa đất 46 tờ bản đồ số 02 diện tích 2.500m² và thửa 1298 tờ bản đồ số 02 diện tích 5.030m² đất tọa lạc tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn bà Thạch Thị Sa R trình bày: Vào năm 2002 bà bắt đầu mua phân bón thuốc trừ sâu của bà Trần Ngọc B, mua theo hình thức gối đầu tới vụ lúa chín thì trả, số tiền nợ của bà B gồm có tiền mượn và tiền vay, bà B có làm cuốn sổ nhưng không cho bà giữ, mỗi lần bà mua phân bón hay vay tiền thì bà B đều ghi sổ, số nợ này kéo dài đến năm 2006 thì bà B nói với bà Sa R còn thiếu số tiền là 30.000.000 đồng, bà không có khả năng trả tiền cho bà B nên bà B kêu bà đưa đất cho bà B để trừ nợ. Bà Sa R thấy không có khả năng trả nợ nếu để lâu, thì lãi đẻ ra lãi nên bà đống ý đưa cho bà B 05 công tầm cấy, bà B đồng ý tính giá bằng 55.000.000 đồng. Bà Bích t nợ bà là 30.000.000 đồng, còn lại 25.000.000 đồng bà B không có đưa cho bà, bà B làm giấy tờ cho bà mướn 05 công mỗi năm là 50 giạ lúa.
Lúc làm giấy tờ bà B ghi trả trước 30.000.000 đồng là để trừ nợ, còn lại 25.000.000 đồng tới hè thu bà B sẽ trả cho bà số tiền còn lại là 25.000.000 đồng, nhưng không có đưa mà chờ tới vụ hè thu, tức kể từ khi làm giấy tờ mua bán xong ngày 12/5/2006 tới vụ hè thu là bà B lấy 50 giạ lúa cho bà thuê đất sẽ bán lấy tiền đưa cho bà 25.000.000 đồng.
Đến năm 2007 bà tiếp tục vay tiền của bà B nhiều lần nhưng không nhớ là bao nhiêu, mỗi lần vay là 5.000.000 đồng hoặc 1.000.000 đồng kéo dài cho đến năm 2012 tổng cộng 27.000.000 đồng, bà B kêu bà đưa cho bà B thửa đất 1298 diện tích 5.030m² hình thức cầm cố đất, để lãi không có phát sinh thì bà đồng ý cầm cố cho bà B.
Trong năm 2012 bà cầm cố cho B, thì bà B nói phần đất chuyển nhượng cho bà B rồi, bà B lấy lại phần đất đã cầm cố đó cho cháu của bà là ông P thuê làm, bà cũng đồng ý giao đất cho ông P thuê, cũng trong năm này bà B lấy luôn phần đất của bà và viết giấy trừ nợ cho bà B.
Trước đây bà cũng đồng ý chuyển nhượng cho bà B phần đất 05 công để trừ nợ, bà B tự ý đo hơn 05 công thì bà cũng đồng ý là thửa 1381 diện tích 5.957m², nhưng bà B không đồng ý như vậy mà còn dùng thủ đoạt chiếm luôn phần đất của bà. Bà Trần Ngọc B đã tự làm hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 46 diện tích 11.435m² của bà được cấp giấy năm 2004 và tự ý giả chữ ký của vợ chồng bà để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thực tế vợ chồng bà không có ký tên trong hợp đồng chuyển nhượng này.
Nay bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng, cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà với bà B, buộc bà B phải trả lại cho bà các thửa đất 1381 diện tích 5.957m², tờ bản đồ số 49 và thửa đất 1298, diện tích 5.030m² tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Bà đồng ý trả lại cho bà Trần Ngọc B với số tiền là 120.000.000 đồng, yêu cầu bà B trả lại giấy đỏ thửa 1380 cho gia đình bà, hiện tại 3 thửa đất này gia đình bà đang canh tác sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Thành N thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của bà Thạch Thị Sa R.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Hữu P trình bày: Việc mua bán đất giữa bà Trần Ngọc B với bà Thạch Thị Sa R thế nào thì ông không biết. Ông chỉ chứng kiến vào năm 2008 bà B, bà Sa R với ông N1 (chồng bà B) có kéo dây ra đo đất không có chính quyền địa phương tham gia. Thời điểm đó đo lấy 09 công, qua năm sau đo lấy tiếp hai công nữa là 11.500m². Theo ông biết là do bà Sa R mướn đất lại làm nhưng không có đong lúa đủ cho bà B cộng thêm tiền mượn của bà B không có trả nên mới đo đất trừ nợ, ông chỉ biết vậy còn cụ thể thiếu bao nhiêu tiền thì ông không biết. Ông chỉ thuê đất của bà Trần Ngọc B để làm, hiện nay ông không còn làm trên phần đất này. Việc tranh chấp giữa bà B với bà Sa R thì ông không có ý kiến và cũng không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc H, ông Trần Duy M thống nhất theo ý kiến và yêu cầu của bà Trần Ngọc B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T và ông Sơn S thống nhất theo ý kiến và yêu cầu của bà Thạch Thị Sa R.
Ngân hàng N3 Chi nhánh huyện C - Phòng G có ý kiến như sau: Thửa đất 1381 tờ bản đồ số 49 và thửa 1298 tờ bản đồ số 02 hiện nay không có thế chấp tại Ngân hàng G nên Ngân hàng không tham gia tố tụng trong vụ án này.
Quỹ tín dụng nhân dân Vinh Kim - Phòng G1 có ý kiến: Thửa đất 1381 tờ bản đồ số 49 và thửa 1298 tờ bản đồ số 02 hiện nay không có thế chấp tại Quỹ tín dụng nên không tham gia tố tụng trong vụ án này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 04/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc B. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện mà bà Trần Ngọc B tự nguyện rút đơn đối với thửa đất 46 tờ bản đồ số 02 diện tích 2.500m² và thửa 1298 tờ bản đồ số 02 diện tích 5.030m² tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị Sa R, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 1381 diện tích 5.957m² tờ bản đồ số 49 với giá 55.000.000 đồng mà bà Thạch Thị Sa R và bà Trần Ngọc B xác lập ngày 11/10/2006.
Buộc bà Trần Ngọc B trả lại cho bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N thửa đất 1381 diện tích 5.957m² tờ bản đồ 49 tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Buộc bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N trả lại cho bà Trần Ngọc B số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) tiền chuyển nhượng đất và số tiền 300.135.000 đồng (Ba trăm triệu một trăm ba mươi lăm nghìn đồng) tiền chênh lệch tổng cộng là 355.135.000 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu một trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Trần Ngọc B với bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N đối với thửa đất 1298 diện tích 5.030m², buộc bà Trần Ngọc B trả lại cho hộ bà Sa R, ông N thửa đất 1298 diện tích 5.030m², buộc hộ bà Sa R có nghĩa vụ trả cho bà B số tiền đã nhận là 51.000.000 đồng (Năm mươi mốt triệu đồng) theo biên nhận ngày 21/02/2010. Buộc bà Trần Ngọc B trả lại giấy đỏ thửa 1380 tờ bản đồ số 02 tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh của gia đình bà Sa R mà bà B đang giữ.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận, tự nguyện thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/8/2023 bà Trần Ngọc B kháng cáo không đồng ý với quyết định của án sơ thẩm, bà cho rằng bà Thạch Thị Sa R có thừa nhận bán đất cho bà thửa 1381.
Ngày 18/8/2023 bà Thạch Thị Sa R kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc buộc bà Sa R trả cho bà Trần Ngọc B số tiền 51.000.000 đồng theo biên nhận ngày 21/02/2010. Bà Thạch Thị Sa R không đồng ý biên nhận và không thừa nhận chữ ký trong biên nhận ngày 21/02/2010 là của vợ chồng bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Ngọc B trình bày quan điểm bảo vệ như sau: Thửa đất số 1381 Hội đồng xét xử sơ thẩm ngày 18/10/2019 nhận định là giả tạo nhưng cấp phúc thẩm nhận định là có đủ căn cứ xác định việc chuyển nhượng là có thật nhưng cấp sơ thẩm xét xử ngày 04/8/2023 hủy hợp đồng do vi phạm về mặt hình thức, năm 2012 bà Thạch Thị Sa R không giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện hợp đồng. Do đã có tranh chấp nên việc buộc thực hiện là không khả thi. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 129 của Bộ luật dân sự năm 2015 và án lệ số 55 công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Ngọc B với bà Thạch Thị Sa R đối với thửa đất số 1381.
Đối với thửa 1380 do thực hiện giấy tay giao dịch, thể hiện giấy tay nhiều lần tổng diện tích là 11.435m² nên bà Thạch Thị Sa R đã đưa thửa số 46 diện tích 11.435m² đi làm thủ tục nhưng sau đó không thực hiện được. Thực tế việc giao dịch cụ thể là thửa 1298 nhưng các bên có thỏa thuận trao đổi qua thửa 1380 nên bà Trần Ngọc B rút lại yêu cầu khởi kiện thửa 1298, từ những căn cứ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Ngọc B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ngày 18/8/2023 bị đơn bà Thạch Thị Sa R kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét về việc Toà án cấp sơ thẩm buộc bà trả cho bà B 51.000.000 đồng, bà cho rằng bà không có nhận số tiền nêu trên tại Biên nhận ngày 21/02/2010. Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm, Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bà Thạch Thị Sa R vẫn vắng mặt không lý do, xem như bà Sa R từ bỏ quyền kháng cáo của mình, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của bà Thạch Thị Sa R.
Ngày 11/8/2023 bà Trần Ngọc B kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm, vì hộ bà Thạch Thi Sa R1 đã thừa nhận có bán cho bà thửa đất 1381. Xét kháng cáo của nguyên đơn còn trong hạn luật định cần được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện Toà án cấp sơ thẩm tiến hành đối chất, tại Biên bản đối chất ngày 18/7/2023 và các lần hòa giải, bà B và bà Sa R1 đều thừa nhận ngày 12/5/2006 bà Sa R1 có chuyển nhượng cho bà B 5.000m² (hiện nay 5.957m²) thửa 1381 với giá 55.000.000 đồng, chưa hoàn thành thủ tục chuyển nhượng. Xét thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên, về hình thức là giấy viết tay không có xác nhận của chính quyền địa phương, về nội dung không ghi số thửa, không có tứ cận, Toà án cấp sơ thẩm ấn định thời gian để các bên hoàn thành thủ tục chuyển nhượng, nhưng các bên vẫn không tiến hành hoàn thành thủ tục. Mặt khác từ khi giao kết hợp đồng bà B cũng không nhận đất để canh tác mà cho người khác thuê lại, xét thấy bà B không có nhu cầu sử dụng đất nên Toà án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 117, 122, 131 Bộ luật dân sự tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa số 1381 diện tích 5.957m² tờ bản đồ số 49 là vô hiệu, xác định lỗi của hai bên và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng là đúng quy định pháp luật, do cả hai bên xác lập giao dịch không tuân thủ về hình thức, Tòa án ấn định thực hiện nhưng cả hai bên không tiến hành thực hiện nên Tòa xác định lỗi của mỗi bên 50% là đúng.
Đối với thửa 1380 diện tích 5.766m² hiện tại bà Thạch Thị Sa R đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang quản lý canh tác. Bà Trần Ngọc B không có qu ản lý sử dụng, cũng không chứng minh được đã nh ận chuyển nhượng thửa đất này. Tại Kết luận giám định số 6474/KL-KTHS ngày 26/12/2022 của Phân viện KTHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chữ ký trên hợp đồng chuyển nhượng được lập ngày 11/5/2012 và chữ ký của ông Lâm Thành N không phải do một người ký ra. Vì vậy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà B về tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 1380.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 04/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà Trần Ngọc B kháng cáo, bị đơn bà Thạch Thị Sa R kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét về nội dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Ngọc B. Bà Trần Ngọc B yêu cầu bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai thửa 1381, tờ bản đồ số 49 diện tích 5.957m² và thửa đất số 1380, tờ bản đồ số 2, diện tích 5.766m², 2 thửa đất cùng tọa lạc tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Qua lời khai của các đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện xét thấy bà Trần Ngọc B với bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N có chuyển nhượng diện tích đất là 5000m² (nay là diện tích 5.957m² thuộc thửa 1381) với giá là 55.000.000 đồng theo “Tờ thỏa thuận chuyển nhượng đất ruộng” ngày 12/5/2006 thể hiện bà Thạch Thị Sa R có chuyển nhượng 5 công đất cho bà Trần Ngọc B với giá là 55.000.000 đồng.
Tại biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh ngày 23/01/2017, biên bản đối chất ngày 22/4/2019 và ngày 18/7/2023 thì bà Thạch Thị Sa R thừa nhận ngày 12/5/2006 bà có chuyển nhượng cho bà Trần Ngọc B 5.000m² (nay diện tích là 5.957m² thửa 1381) với giá là 55.000.000 đồng, bà Thạch Thị Sa R đã giao đất cho bà Trần Ngọc B canh tác năm 2006 lúc đó hai bên chỉ viết giấy tay, chưa thực hiện đúng về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng, chưa thực hiện thủ tục chứng thực theo quy định của pháp luật là vi phạm về mặt hình thức của hợp đồng được quy định tại các Điều 501, 502 của Bộ luật dân sự. Căn cứ vào Điều 134 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án đã ra quyết định buộc các bên đương sự phải thực hiện hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, hết thời hạn ấn định các đương sự vẫn không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nên căn cứ vào Điều 117 Bộ luật dân sự thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Ngọc B với bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N là vô hiệu do giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức của hợp đồng án sơ thẩm tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Ngọc B với bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N đối với thửa đất 1381 diện tích 5.957m² tọa lạc tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.
Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.
Đối với thửa đất 1380, diện tích 5.766m² và thửa 1298, diện tích 5.030m² thì hiện tại bà Thạch Thị Sa R đang đứng tên quyền sử dụng đất và đang canh tác sử dụng. Bà Trần Ngọc B cũng không chứng minh được là bà chuyển nhượng đất của bà Thạch Thị Sa R thửa đất 1380. Căn cứ vào kết luận giám định số 6474/KL.KTHS ngày 26 tháng 12 năm 2022 của phân viện khoa học hình sự Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng xác lập ngày 11/5/2012 không phải là chữ ký của bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N.
Án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc B về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Ngọc B với bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N đối với thửa đất số 1380 diện tích là 5.766m² đất tọa lạc tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Ngọc B tự nguyện rút lại yêu cầu đối với thửa 1298 án sơ thẩm đình chỉ xét xử sơ thẩm là có căn cứ.
Về xác định thiệt hại, án sơ thẩm xác định mức độ lỗi của bà Trần Ngọc B với bà Thạch Thị Sa R là ngang nhau nên các đương sự phải chịu 50% thiệt hại là có căn cứ.
Theo kết quả định giá tài sản thì giá của thửa đất 1381 là 655.270.000 đồng (5.957m² x 110.000 đồng) khấu trừ số tiền mà hai bên chuyển nhượng giao nhận là 55.000.000 đồng như vậy số tiền thiệt hại được xác định là 600.270.000 đồng (655.270.000 - 55.000.000) bà Trần Ngọc B phải chịu 300.135.000 đồng
Bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Ngọc B số tiền khi hai bên thực hiện việc chuyển nhượng là 55.000.000 đồng và số tiền thiệt hại là 300.135.000 đồng tổng cộng là 355.135.000 đồng.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bà Thạch Thị Sa R không thừa nhận biên nhận ngày 21/2/2020 là của vợ chồng bà nên bà không có nhận số tiền 51.000.000 đồng của bà Trần Ngọc B. Xét thấy người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do thì bị coi như họ từ bỏ việc kháng cáo. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Thạch Thị Sa R.
Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc B, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị Sa R là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Ngọc B và bị đơn bà Thạch Thị Sa R. Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Ngọc B, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Thạch Thị Sa R, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
Về chi phí giám định chữ ký: buộc bà Trần Ngọc B phải chịu số tiền là 8.430.000 đồng.
Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: số tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản tổng cộng là 8.380.400 đồng. Buộc bà Trần Ngọc B và bà Thạch Thị Sa R mỗi người phải chịu 4.190.200 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lâm Thanh N2 và bà Thạch Thị Sa R, bà Trần Ngọc B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí phúc thẩm: Bà Trần Ngọc B và bà Thạch Thị Sa R là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp án phí nên thuộc diện được miễn nộp theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Trần Ngọc B và bà Thạch Thị Sa R.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Ngọc B, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Thạch Thị Sa R. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Trần Ngọc B với bị đơn bà Thạch Thị Sa R.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc B. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc B đối với thửa đất số 46, tờ bản đồ số 02 diện tích 2.500m² và thửa 1298, tờ bản đồ số 02, diện tích 5.030m².
- Về án phí và chi phí tố tụng:
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị Sa R, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 1381, diện tích 5.957m², tờ bản đồ số 49 với giá 55.000.000 đồng mà bà Trần Ngọc B và bà Thạch Thị Sa R xác lập ngày 11/10/2006.
Buộc bà Trần Ngọc B trả lại cho bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N thửa đất 1381, diện tích 5.957m², tờ bản đồ số 49 đất tọa lạc tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Buộc bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N trả lại cho bà Trần Ngọc B số tiền 355.135.000 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu một trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Trần Ngọc B với bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N đối với thửa đất 1298 diện tích 5.030m², buộc bà Trần Ngọc B trả lại cho hộ bà Sa R, ông N thửa đất 1298 diện tích 5.030m², buộc hộ bà Sa R có nghĩa vụ trả cho bà B số tiền đã nhận là 51.000.000 đồng (Năm mươi mốt triệu đồng) theo biên nhận ngày 21/02/2010.
Buộc bà Trần Ngọc B trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1380 tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh của gia đình bà Sa R mà bà B đang giữ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, về lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Ngọc B, bà Thạch Thị Sa R và ông Lâm Thành N; hoàn trả lại cho bà Trần Ngọc B 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0019965 ngày 03 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Hoàn trả lại cho bà Thạch Thị Sa R 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001929 ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho bà Trần Ngọc B và bà Thạch Thị Sa R.
Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: số tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản tổng cộng là 8.380.400 đồng. Bà Trần Ngọc B và bà Thạch Thị Sa R mỗi người phải chịu 4.190.200 đồng. Bà Thạch Thị Sa R đã nộp tạm ứng số tiền là 1.893.400 đồng nên buộc bà Thạch Thị Sa R phải nộp thêm số tiền là 2.296.800 đồng, bà Trần Ngọc B nộp tạm ứng số tiền 6.487.000 đồng sau khi khấu trừ tiền chi phí mà bà B phải chịu là 4.190.200 đồng thì số tiền chênh lệch thừa là 2.296.800 đồng. Khi cơ quan Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Trà Vinh thu của bà Thạch Thị Sa R số tiền 2.296.800 đồng sẽ hoàn trả lại cho bà Trần Ngọc B.
Về chi phí giám định chữ ký: Buộc bà Trần Ngọc B phải chịu 8.430.000 đồng, bà Trần Ngọc B đã nộp xong.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Trần Văn Lực | Huỳnh Đắc Đương |
| Đặng Văn Hùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Đắc Đương |
Bản án số 53/2024/DS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 53/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
