TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 53/2023/DSST
Ngày: 16-11-2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông: Đoàn Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chau Khon Sốc
Bà Vanh Si Tha
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thái Hòa, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 37/2021/TLST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2021 “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2023/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023, giữa:
Nguyên đơn: Bà Trịnh Thanh T, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang, (Vắng mặt).
Người đại theo ủy quyền của bà Trịnh Thanh T: Ông Trần Thiện T1, sinh năm 1996; địa chỉ: Khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, (Có mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: Cầu A, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Thiện T1 trình bày:
Ngày 17-10-2020, bà Trịnh Thanh T có thỏa thuận ký hợp đồng mua bán nhà và đất với bà Nguyễn Thị T2. Thửa đất diện tích 88,6m² (ngang 5,95m dài 14,8m). Trên đất có một căn nhà cấp 4, vách tường, lợp tol, đất tọa lạc đường N, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang. Đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên thỏa thuận giá mua bán 150.000.000 đồng, hình thức thanh toán tiền mặt một lần, hẹn giao nhà và đất sau 01 tháng kể từ ngày 17-10-2020. Thế nhưng đến ngày giao nhà và đất thì bà T2 không giao mà có yêu cầu được ở lại. Bà T đồng ý cho bà T2 thuê lại nhà với giá 250.000 đồng/ngày. Đến ngày 20-01-2021, bà Nguyễn Thị T2 ngưng không thanh toán tiền thuê nhà cho bà T.
Trước đây ông T1 đại diện cho nguyên đơn yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán nhà và đất ngày 17-10-2020 giữa bà Trịnh Thanh T và bà Nguyễn Thị T2. Yêu cầu bà T2 giao nhà và đất đã bán theo thỏa thuận.
Tại phiên tòa, ông T1 thay đổi yêu cầu, không yêu cầu bà T2 thực hiện hợp đồng mua bán nhà, đất mà ông chỉ yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền mua bán nhà và đất đã nhận từ bà Trịnh Thanh T là 150.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu trả lãi 12 tháng tính từ ngày 17-10-2020 đến 17-10-2021 theo quy định của pháp luật là 20%/năm, tương đương 1,67%/tháng (Cụ thể: Vốn 150.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 12 tháng = 30.006.000 đồng), tổng cộng vốn và lãi là 180.006.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Bà có vay của bà Trịnh Thanh T 02 lần với số tiền 150.000.000 đồng, đóng lãi mỗi ngày là 750.000 đồng, sau một thời gian bà T2 không đóng lãi nữa nên bà T có làm hợp đồng mua bán nhà và đất kêu bà ký tên làm tin nên bà mới ký tên chứ thực tế không có việc bà bán nhà và đất cho bà T (Việc trả lãi cho bà T không có chứng cứ chứng minh). Nay đại diện nguyên đơn yêu cầu bà trả số tiền 150.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi 12 tháng tính từ ngày 17-10-2020 đến 17-10-2021 theo quy định của pháp luật là 30.006.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 180.006.000 đồng, bà T2 đồng ý trả. Do hoàn cảnh khó khan bà xin trả dần số nợ, ông T1 không đồng ý.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý vụ án cho đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiện vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân Sự. Tuy nhiên, còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân Sự.
Về nội dung: Nguyên đơn và người đại diện trình bày: Ngày 17-10-2020, bà Trịnh Thanh T có thỏa thuận ký hợp đồng mua bán nhà và đất với bà Nguyễn Thị T2, thửa đất có diện tích 88,6m² (ngang 5,95m dài 14,8m). Trên đất có một căn nhà cấp 4, vách tường, lợp tol, nhà, đất tọa lạc đường N, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang. Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên thỏa thuận giá mua bán 150.000.000 đồng, hình thức thanh toán tiền mặt một lần, hẹn giao nhà và đất sau 01 tháng kể từ ngày 17-10-2020. Thế nhưng đến ngày giao nhà và đất thì bà T2 không giao mà có yêu cầu được ở lại. Bà T đồng ý cho bà T2 thuê lại nhà với giá 250.000 đồng/ngày. Đến ngày 20-01-2021, bà Nguyễn Thị T2 ngưng không thanh toán tiền thuê nhà cho bà T.
Trong quá trình khởi kiện, ông T1 đại diện cho nguyên đơn yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán nhà và đất ngày 17-10-2020 giữa bà Trịnh Thanh T và bà Nguyễn Thị T2. Yêu cầu bà T2 giao nhà và đất đã bán theo thỏa thuận.
Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông T1 thay đổi yêu cầu, không yêu cầu bà T2 thực hiện hợp đồng mua bán nhà, đất mà ông chỉ yêu cầu Tòa án bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền mua bán nhà và đất đã nhận từ bà Trịnh Thanh T là 150.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu trả lãi 12 tháng tính từ ngày 17-10-2020 đến 17-10-2021 theo quy định của pháp luật là 20%/năm, tương đương 1,67%/tháng (Cụ thể: Vốn 150.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 12 tháng = 30.006.000 đồng), tổng cộng vốn và lãi là 180.006.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Do bà có vay của bà Trịnh Thanh T 02 lần với số tiền 150.000.000 đồng, đóng lãi mỗi ngày là 750.000 đồng, sau một thời gian bà T2 không đóng lãi nữa nên bà T có làm hợp đồng mua bán nhà và đất kêu bà ký tên làm tin nên bà mới ký tên chứ thực tế không có việc bà bán nhà và đất cho bà T (Việc trả lãi cho bà T không có chứng cứ chứng minh). Nay đại diện nguyên đơn yêu cầu bà trả số tiền 150.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi 12 tháng tính từ ngày 17-10-2020 đến 17-10-2021 theo quy định của pháp luật là 30.006.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 180.006.000 đồng, bà T2 đồng ý trả.
Xét thấy, hợp đồng mua bán nhà và đất lập ngày 17-10-2020 giữa bà T và bà T2 không tuân thủ về hình thức theo quy định của pháp luật, lẽ ra cần tuyên bố vô hiệu, tuy nhiên tại phiên tòa đại diện nguyên đơn thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu bà T2 trả số tiền đã nhận và lãi tổng cộng là 180.006.000 đồng, bà T2 cũng đồng ý trả tiền vốn và tự nguyện trả tiền lãi theo yêu cầu của nguyên đơn. Nhận thấy, sự tự nguyện trả tiền lãi 30.006.000 đồng của bà T2 là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được công nhận. Yêu cầu trả tiền 150.000.000 đồng của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bà Nguyễn Thị T2 trả cho bà Trịnh Thanh T số tiền 150.000.000 đồng là phù hợp.
Đối với yêu cầu xin trả dần số nợ của bà T2 không được đại diện nguyên đơn chấp nhận nên không có cơ sở xem xét.
Về chi phí tố tụng, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T2 phải chịu toàn bộ các chi phí tố tụng theo quy định.
Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T2 phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ngày 02 tháng 12 năm 2022, bà Trịnh Thanh T có đơn khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán nhà và đất lập ngày 17-10-2020 giữa bà Trịnh Thanh T và bà Nguyễn Thị T2. Yêu cầu bà T2 giao nhà và đất đã bán theo thỏa thuận. Đây là qua hệ pháp luật tranh chấp về “Hợp đồng chuyển nhượng nhà ở và quyền sử dụng đất”, bà Nguyễn Thị T2 cư trú tại Tổ A, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp: Ngày 17-10-2020, bà Trịnh Thanh T có thỏa thuận ký hợp đồng mua bán nhà và đất với bà Nguyễn Thị T2, thửa đất có diện tích 88,6m² (ngang 5,95m dài 14,8m). Trên đất có một căn nhà cấp 4, vách tường, lợp tol, nhà, đất tọa lạc đường N, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang. Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên thỏa thuận giá mua bán 150.000.000 đồng, hình thức thanh toán tiền mặt một lần, hẹn giao nhà và đất sau 01 tháng kể từ ngày 17-10-2020. Thế nhưng đến ngày giao nhà và đất thì bà T2 không giao mà có yêu cầu được ở lại. Bà T đồng ý cho bà T2 thuê lại nhà với giá 250.000 đồng/ngày. Đến ngày 20-01-2021, bà Nguyễn Thị T2 ngưng không thanh toán tiền thuê nhà cho bà T.
Trong quá trình khởi kiện, ông T1 đại diện cho nguyên đơn yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán nhà và đất ngày 17-10-2020 giữa bà Trịnh Thanh T và bà Nguyễn Thị T2. Yêu cầu bà T2 giao nhà và đất đã bán theo thỏa thuận.
Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông T1 thay đổi yêu cầu, không yêu cầu bà T2 thực hiện hợp đồng mua bán nhà, đất mà ông chỉ yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền mua bán nhà và đất đã nhận từ bà Trịnh Thanh T là 150.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu trả lãi 12 tháng tính từ ngày 17-10-2020 đến 17-10-2021 theo quy định của pháp luật là 20%/năm, tương đương 1,67%/tháng (Cụ thể: Vốn 150.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 12 tháng = 30.006.000 đồng), tổng cộng vốn và lãi là 180.006.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Do bà có vay của bà Trịnh Thanh T 02 lần với số tiền 150.000.000 đồng, đóng lãi mỗi ngày là 750.000 đồng, sau một thời gian bà T2 không đóng lãi nữa nên bà T có làm hợp đồng mua bán nhà và đất kêu bà ký tên làm tin nên bà mới ký tên chứ thực tế không có việc bà bán nhà và đất cho bà T (Việc trả lãi cho bà T không có chứng cứ chứng minh). Nay đại diện nguyên đơn yêu cầu bà trả số tiền 150.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi 12 tháng tính từ ngày 17-10-2020 đến 17-10-2021 theo quy định của pháp luật là 30.006.000 đồng, tổng cộng là 180.006.000 đồng, bà T2 đồng ý trả lại 150.000.000 đồng và tự nguyện trả tiền lãi 30.006.000 đồng theo yêu cầu của đại diện nguyên đơn, do hoàn cảnh khó khăn xin được trả dần số nợ.
Xét thấy, hợp đồng mua bán nhà và đất lập ngày 17-10-2020 giữa bà T và bà T2 không tuân thủ về hình thức theo quy định của pháp luật, lẽ ra cần tuyên bố vô hiệu, tuy nhiên tại phiên tòa đại diện nguyên đơn thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu bà T2 trả số tiền đã nhận 150.000.000 đồng và lãi là 30.006.000 đồng, tổng cộng là 180.006.000 đồng, bà T2 cũng đồng ý trả lại số tiền đã nhận và tự nguyện trả tiền lãi theo yêu cầu của nguyên đơn. Nhận thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của đại diện nguyên đơn và sự thừa nhận trả tiền đã nhận và tiền lãi của bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, hơn nữa yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu xin trả dần số nợ của bà T2 không được đại diện nguyên đơn chấp nhận nên không có cơ sở xem xét.
Về chi phí tố tụng, bà T nộp tiền chi phí đo đạc 1.031.400 đồng, chí phí xem xét thẩm định tại chỗ 1.500.000 đồng, tổng cộng là 2.531.400 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T2 phải chịu toàn bộ các chi phí tố tụng theo quy định và có trách nhiệm trả cho bà T số tiền 2.531.400 đồng.
Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T2 phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Căn cứ Điều 117; Điều 119; Điều 122; Điều 131; Điều 468; Điều 500; Điều 502; Điều 503 Bộ luật dân sự:
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thanh T đối với bà Nguyễn Thị T2 về “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở”.
Buộc bà Nguyễn Thị T2 trả lại cho bà Trịnh Thanh T số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và 2.531.400 đồng (Hai triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm đồng) tiền chi phí tố tụng.
Công nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T2 trả cho bà Trịnh Thanh T số tiền lãi 30.006.000 đồng (Ba mươi triệu không trăm linh sáu nghìn đồng).
Về án phí: Bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Trịnh Thanh T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0002259 ngày 25-3-2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường pháp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Văn Hùng |
Bản án số 53/2023/DSST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở
- Số bản án: 53/2023/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
