Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 53/2024/HS-ST

Ngày 16-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Giám và ông Kim Văn Chiến

- Thư ký phiên toà: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với:

- Bị cáo Phan Văn T, sinh năm 1999 tại xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T1 và bà Phan Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án: Tại Bản án số 116/2021/HSST ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Phan Văn T 01 năm 03 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 02 năm 03 tháng tù. Ngày 01/10/2023 Phan Văn T chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47/QĐ-XPHC ngày 27/6/2018 của Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Phan Văn T 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2024 đến nay, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 02/5/2024, Phan Văn T đi nhờ xe máy của một người đàn ông đi đường, T không biết tên, địa chỉ của người đó từ thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đến khu vực ngã ba T thuộc địa phận phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Phan Văn T xuống xe, đi bộ tìm mua ma túy, khi đến khu vực gần nhà nghỉ T2, thuộc địa phận tổ dân phố T, phường H, thành phố V, T gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m70, người gầy, tóc ngắn, đeo khẩu trang trông giống người nghiện ma túy. T hỏi người này có biết chỗ nào bán ma túy heroin hay không và nhờ mua hộ 300.000đồng thì người này đồng ý. Phan Văn T đưa cho người này số tiền 300.000đồng gồm 03 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đồng, người đàn ông cầm tiền đi đâu T không biết. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông đó quay lại và đưa cho T 02 gói nhỏ ma túy heroin được gói bên ngoài bằng lớp nilon màu trắng, lớp bên trong là mảnh giấy trắng có dòng kẻ. Phan Văn T cầm số ma túy cất vào túi quần bò bên phải đang mặc. Sau đó lại đi nhờ xe máy của một người nam giới khoảng 30 tuổi không quen biết về đường tỉnh lộ 309 thuộc địa phận thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc thì xuống xe. Phan Văn T tiếp tục đi bộ để tìm xe đi nhờ về nhà thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Khi bị kiểm tra, Phan Văn T tự nguyện lấy số ma túy đang giữ trong người giao nộp. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định. Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói chất bột màu trắng được gói bằng lớp nilon màu trắng, lớp bên trong là giấy trắng có dòng kẻ trong túi quần bò bên phải của Phan Văn T đang mặc, được niêm phong trong bì thư ký hiệu A1.

Ngày 02/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có quyết định trưng cầu giam định số 607/QĐ-ĐCSKT-MT, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định đối với chất cục bột màu trắng được niêm phong trong bì thư kí hiệu A1.

Tại Kết luận giám định số 1203/KLGĐ ngày 06/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,2671g (không phẩy hai sáu bảy một gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Heroine (H)”.

Đối với đối tượng Phan Văn T nhờ mua ma túy, T khai là nam giới, khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m70, năm khoảng 55kg, người gầy, tóc ngắn, T không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhìn rõ mặt do người này đeo khẩu trang. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác định được đối tượng trên.

Tại cơ quan điều tra, Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại Cáo trạng số 53/CT-VKSTD ngày 15/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo Phan Văn T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tam giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu và không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 02/5/2024, tại khu vực đường tỉnh lộ 309 thuộc địa phận thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang Phan Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2671gam chất ma túy heroine mục đích để sử dụng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra, ma túy là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo là người nghiện ma túy, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, và có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nhưng bị cáo không những không lấy làm bài học mà lại tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật. Do bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đề nghị là có căn cứ và phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập thấp, bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Đối với người nam giới mà Phan Văn T khai nhờ mua ma túy vào ngày 02/5/2024: Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được đối tượng có đặc điểm như T khai báo. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối tượng trên.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1543gam ma túy heroin còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/5/2024).
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng K - Công an tỉnh V hoàn lại, gồm 0,1543g mẫu cùng toàn bộ bao gói.

    (Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương)

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Dương;
  • - Công an huyện Tam Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý"

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn T - Tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger