Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16/8/2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ

Các Hội thẩm nhân dân:1. Nguyễn Văn Trò

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Toà số 53 ngày 31/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị V, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Vũ Công Đ, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Khu X, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

(Chị V có mặt, anh Đ vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 02/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn chị Trần Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đ tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng kí kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ ngày 06/01/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên vợ chồng ly thân từ đầu tháng 05/2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án cho chị ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Vũ Thị Thùy T, sinh ngày 29/10/2012; Vũ Thị Kim N, sinh ngày 29/4/2017 và Vũ Tiến Đ1, sinh ngày 07/02/2019. Hiện nay cháu T và cháu Đ1 đang ở với anh Đ, cháu N đang ở với chị V.

Khi ly hôn, chị V đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N còn để cháu T và cháu Đ1 ở với anh Đ, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Hai bên thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung về tài sản, công sức: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Vũ Công Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị V tự nguyện kết hôn ngày 06/01/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chơi bời, nghe lời bạn bè dẫn đến nợ nần. Đến khoảng tháng 05/2022 chị V tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, thỉnh thoảng tôi vẫn đến khuyên giải chị V về nhưng chị vẫn kiên quyết không về. Nay chị V xin ly hôn thì anh không đồng ý, anh muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dưỡng con chung.

Vợ chồng có 03 con chung là Vũ Thị Thùy T, sinh ngày 29/10/2012; Vũ Thị Kim N, sinh ngày 29/4/2017 và Vũ Tiến Đ1, sinh ngày 07/02/2019. Hiện nay cháu T và cháu Đ1 đang ở với anh Đ, cháu N đang ở với chị V. Anh Đ đề nghị được nuôi dưỡng cả 03 con chung và không đề nghị chị V phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Hai bên thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung về tài sản, công sức: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 18/6/2024, cháu Vũ Thị Kim N có quan điểm trình bày nguyện vọng muốn ở với mẹ.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã báo gọi yêu cầu anh Đ đưa cháu Vũ Thị Thùy T đến nhiều lần nhưng anh Đ không hợp tác, Toà án đã tiến hành đến địa phương nhưng vẫn không gặp được cháu T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trần Thị V được ly hôn với anh Vũ Công Đ.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Trần Thị V trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là cháu Vũ Thị Kim N, sinh ngày 29/4/2017 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Giao cho anh Vũ Công Đ trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Vũ Thị Thùy T, sinh ngày 29/10/2012 và cháu Vũ Tiến Đ1, sinh ngày 07/02/2019 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi từng con chung thành niên (Đủ 18 tuổi).

Chị Trần Thị V và anh Vũ Công Đ quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cấm cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V, anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Chị V, anh Đ thống nhất tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị V chịu án phí theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà. Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị V yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê giải quyết ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. Bị đơn anh Vũ Công Đ đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu X xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn anh Vũ Công Đ vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn xét xử vắng mặt anh Đ.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị V và anh Vũ Công Đ kết hôn ngày 06/01/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Hôn nhân giữa chị V và anh Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Do đó hôn nhân giữa chị V và anh Đ là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh Đ, được đại diện khu dân cư và đại diện UBND xã T cho biết: Hôn nhân của chị V và anh Đ có xảy ra mâu thuẫn, về nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không biết cụ thể. Đến khoảng tháng 05/2022 chị V về nhà bố mẹ đẻ ở, từ đó đến nay anh Đ có đến nhiều lần để khuyên giải chị V nhưng không được, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự và con chung. Do vậy cần xử cho chị V được ly hôn anh Đ là phù hợp thực tế và đúng với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

2.2. Về con chung: Vợ chồng chị V và anh Đ có 03 con chung. Quá trình giải quyết vụ án chị V có cung cấp bảng lương thể hiện mức thu nhập bình quân hàng tháng ổn định. Anh Đ hiện đang làm lao động tự do, có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại xã T. Anh Đ xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung nhưng xét thấy giao cho anh Đ cả 03 con chung không đảm bảo cuộc sống ổn định và sự phát triển mọi mặt của các con chung nên chỉ giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Thị Thùy T, sinh ngày 29/10/2012 và cháu Vũ Tiến Đ1, sinh ngày 07/02/2019 còn chị V được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Thị Kim N, sinh ngày 29/4/2017 là phù hợp với nguyện vọng của nguyên đơn chị V và điều kiện kinh tế của anh Đ.

Chị Trần Thị V và anh Vũ Công Đ quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cấm cản trở.

2.3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Chị V và anh Đ thống nhất tự thoả thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Buộc chị Trần Thị V phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị V được ly hôn với anh Vũ Công Đ.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Vũ Thị Kim N, sinh ngày 29/4/2017 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Giao cho anh Vũ Công Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là cháu Vũ Thị Thùy T, sinh ngày 29/10/2012 và cháu Vũ Tiến Đ1, sinh ngày 07/02/2019 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi từng con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Chị Trần Thị V và anh Vũ Công Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
  3. Chị Trần Thị V và anh Vũ Công Đ quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cấm cản trở.
  4. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Trần Thị V và anh Vũ Công Đ thống nhất tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết .
  5. Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004866 ngày 17/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê. Xác nhận chị V đã nộp đủ tiền án phí.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Cẩm Khê;
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Khê;
  • - UBND xã Tùng Khê;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger