TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 07 - 2024 V/v: Tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Huỳnh Minh Chánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Lê Văn Qui.
- Ông: Nguyễn Văn Trưởng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang là Thư ký Toà án nhân dân
thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 16 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 105/2024/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị E, sinh năm 1974. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Bùi Văn Ơ, sinh năm 1971. (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Khu vực 4, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ cư trú: Khu vực 4, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Thị E (gọi tắt là bà E) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước đây bà E và ông Bùi Văn Ơ quen nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, bà E và ông Ơ có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Cần Thơ (nay là phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang) vào ngày 31/08/1999. Bà E và ông Ơ chung sống hạnh phúc được thời gian 28 năm, thì phát sinh mâu thuẫn do ông Ơ thường xuyên uống rượu, khi có rượu trong người thì ông Ơ đánh và đuổi bà E ra khỏi nhà. Nhưng lo tương lai cho con và hạnh phúc của gia đình nên bà E cố gắn nhường nhịn ông Ơ, nhưng trái lại ông Ơ không sửa chữa mà lại xảy ra mâu thuẫn nhiều hơn. Nên bà E đã ly thân với ông Ơ từ tháng 11 năm 2023 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên quyết định ly hôn với ông Ơ.
Về con chung: Quá trình chung sống bà E và ông Ơ có 01 con chung tên Bùi Thị Mỹ L (Giới tính: nữ), sinh ngày 07/8/1996. Hiện nay đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Có nhưng bà E tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà Bùi Thị E vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Bùi văn Ơ đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị E và Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Ơ để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn ông Bùi văn Ơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn”. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn ông Bùi Văn Ơ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Bùi Văn Ơ. Nhưng vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của ông Ơ theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Bà E và ông Ơ tự nguyện kết hôn vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Cần Thơ (nay là phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang) theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bà E và ông Ơ phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà E cho rằng mâu thuẫn giữa bà và ông Ơ không thể hàn gắn, bà E không còn tình cảm đối với ông Ơ và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông Ơ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bà E và ông Ơ nhiều lần để hòa giải, động viên ông bà đoàn tụ nhưng ông Ơ vắng mặt không lý do. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa bà E và ông Ơ thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng bà E và ông Ơ không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ mà bà E yêu cầu xin ly hôn với ông Ơ là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa, bà E vẫn cương quyết xin ly hôn với ông Ơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà E. Cho bà E và ông Ơ được ly hôn.
[2.2]. Về con chung: Bà E và ông Ơ có 01 con chung tên Bùi Thị Mỹ L (Giới tính: Nữ), sinh ngày 07/8/1996 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
[2.3]. Về tài sản chung: Bà E khai có nhưng tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4]. Về nợ chung: Bà E khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Bùi Thị E phải nộp 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 147, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 9, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị E. Cho bà Bùi Thị E được ly hôn với ông Bùi Văn Ơ.
- Về con chung: Cháu Bùi Thị Mỹ L (Giới tính: Nữ), sinh ngày 07/8/1996 hiện nay đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Bà E khai có nhưng tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà E khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bùi Thị E phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà E đã nộp theo lai thu số 0007757 lập ngày 04/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bán án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
Huỳnh Minh Chánh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nên bà Em đã ly thân với ông Ơn từ tháng 11 năm 2023 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên quyết định ly hôn với ông Ơn.
