|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 7- 2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa Phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Quốc Lệ
- Ông Vũ Văn Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 168/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 05 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị K T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp 4, xã L, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt do có đơn xin vắng mặt);
Bị đơn: Ông Nguyễn Th T, sinh năm 1976; Địa chỉ: Ấp 4, xã L, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 25/06/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị K T trình bày:
Năm 2003, bà và ông Nguyễn Th T quen biết nhau, sau đó phát sinh tình cảm nên tiến tới xác lập quan hệ vợ chồng. Tuy không tổ chức lễ cưới, nhưng có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Long An ngày 04/3/2003. Cuộc sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã. Bởi vì, bà thương con nên cố gắng duy trì quan hệ hôn nhân nhưng kết quả vẫn không khắc phục được. Từ đó, dẫn đến vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 và hiện nay xác định mâu thuẫn đã rất trầm trọng, không hàn gắn được.
Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân, bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Th T; Về nuôi con chung, bà xác định vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ng Th, sinh năm 1996 và Nguyễn Th Th, sinh năm 2002 đều đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không tranh chấp về tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, bà không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.
Đồng thời, bà xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và do bận công việc cá nhân nên bà đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà.
Về phía bị đơn ông Nguyễn Th T: Ông T vắng mặt, không cung cấp cho Tòa án ý kiến trình bày cũng như tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án.
Sau khi thụ lý vụ án: Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vắng mặt. Cho nên, Tòa án lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản không hòa giải được. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu không tiến hành hòa giải. Do đó, Tòa án không tiếp tục hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa: Bà T vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt, riêng ông T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về pháp luật tố tụng
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị K T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Th T; căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “Tranh chấp ly hôn” theo thẩm quyền giải quyết thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
[1.2] Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Bà Lê Thị K T có yêu cầu khởi kiện ly hôn đối với ông Nguyễn Th T, xác định bà T là nguyên đơn, ông T là bị đơn theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo căn cứ tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về pháp luật nội dung
[2.1] Tòa án đã tiến hành tống đạt cho bị đơn tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như toàn bộ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Tòa án không nhận được bất kỳ tài liệu chứng cứ hay ý kiến của bị đơn nên được xem đã tự từ bỏ quyền chứng minh của mình đối với yêu cầu mà nguyên đơn khởi kiện. Ngoài ra, bị đơn cũng không có yêu cầu khởi kiện phản tố gửi cho Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân:
Theo hồ sơ thể hiện, bà Lê Thị K T và ông Nguyễn Th T đã xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 2003, dù không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng kí kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2003, Quyển số 01/2003 do tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Long An cấp ngày 04/3/2003 nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo bà T trình bày chỉ hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không có sự tôn trọng chia sẻ với nhau. Đặt biệt, mâu thuẫn đã trầm trọng hơn từ khoảng tháng 6 năm 2023, dẫn đến vợ chồng phải ly thân. Hiện nay, bà xác định mâu thuẫn là không thể khắc phục được, quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục duy trì nên bà đề nghị được ly hôn với ông T.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt cho ông T các văn bản tố tụng cũng như tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để ông T biết và thực hiện quyền của mình. Tuy nhiên, ông T vắng mặt và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho thấy ông T hoàn toàn không thể hiện thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Từ những nhận định trên, xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T .
[2.3] Về nuôi con chung: Căn cứ tài liệu do nguyên đơn cung cấp, sự xác định của nguyên đơn thể hiện ông bà có hai con chung tên Nguyễn Thị Ng Th, sinh năm 1996 và Nguyễn Th Th, sinh năm 2002. Bà T trình bày cả hai con đều đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến phản hồi về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không tranh chấp về tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn vắng mặt, cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K T về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Nguyễn Th T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị K T được ly hôn với ông Nguyễn Th T.
- Về án phí: Bà Lê Thị K T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Lê Thị K T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007367 ngày 15/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An, bà Lê Thị K T đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo đối với bản án: Án xét xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Thái Thị Thanh Thúy |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T "Ly hôn" Đỗ Thành T
