|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 53/2024/HS-ST
Ngày: 15/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Phạm Xuân Diễn.
Các Hội thẩm nhân dân :
- - Ông Đàm Chí Thân ;
- - Bà Vũ Thị Thanh.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa : Bà Vũ Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST- HS, ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đối với các bị cáo :
1. Vũ Xuân H (giới tính: nam), sinh ngày 14/4/1994, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh
Nơi cư trú: tổ 4, khu Chạp Khê, phường Nam Khê, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Văn H1 (đã chết) và bà Bùi Thị H2; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 30/9/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương ngày 27/08/2015. Ngày 16/11/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt chung là 03 năm 09 tháng tù. Ngày 29/4/2020 chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ tạm giam từ ngày 10/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
2
2. Trần Lê P (giới tính: nam), sinh ngày: 27/5/1994, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh
Nơi đăng ký HKTT: tổ A, khu C, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.
Chỗ ở: khu H, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: không xác định, con bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ con
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Phạm Văn T, anh Hoàng Văn T1, anh Phạm Cảnh .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 10 ngày 10/10/2023, Công an thị xã Q tiến hành kiểm tra hành chính xưởng sửa chữa xe ô tô của Trần Lê P tại khu H, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình kiểm tra có Trần Lê P, Vũ Xuân H; phát hiện và thu giữ: Tại túi quần phía trước bên trái P đang mặc 03 túi nilon màu trắng, có khóa kẹp, mỗi túi đều chứa các sợi thực vật khô màu nâu; Tại gác xép xưởng ô tô nơi P ngủ có 01 túi vải màu đỏ, bên trong có 12 túi nilon màu trắng, loại có khóa kẹp, mỗi túi đều chứa các sợi thực vật khô màu nâu. H và P khai nhận các sợi thực vật khô màu nâu bị thu giữ trên là một loại ma túy tên là “Tobacco” của H và P cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác.
Trước đó, Vũ Xuân H và Trần Lê P từng bán ma túy Cần sa và “Tobacco” cho Phạm Văn T (sinh năm 2003; Trú tại khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh), cụ thể:
+ Lần thứ nhất, khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/10/2023, T đến xưởng sửa chữa ô tô tìm H hỏi mua 200.000 đồng ma túy “Tobacco”. H đi lên gác xép lấy 02 túi “Tobacco” đưa cho T và nhận lại số tiền 200.000 đồng.
+ Lần thứ hai, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/10/2023, T nhắn tin cho H qua ứng dụng Messenger hỏi mua 200.000 đồng ma túy Cần sa và 200.000 đồng ma túy “Tobacco”, H đồng ý và nhắn tin bảo P bán ma túy cho T. Sau đó, T nhờ bạn là anh Phạm C chở đi có việc. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh C chở T đến xưởng sửa chữa ô tô. Tại đây, P đưa cho T 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 02 túi Tobacco và 01 túi Cần sa. T chuyển khoản cho P số tiền 400.000 đồng, P đã đưa lại cho H 400.000 đồng.
+ Lần thứ ba, khoảng 10 giờ 50 phút ngày 10/10/2023, T nhắn tin hỏi H mua 200.000 đồng Cần sa, H đồng ý. Sau đó T nhờ anh Hoàng Văn T1 chở đến xưởng sửa chữa ô tô. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T đến nơi nhưng không gặp H, T hỏi P nhưng hết Cần sa nên T mua “Tobacco”. P lấy 02 túi ma túy “Tobacco” đưa cho T và nhận lại 200.000 đồng. Số tiền này P chưa đưa cho H mà đã chi tiêu cá nhân hết.
Nguồn gốc số ma túy “Tobacco” do H đặt mua của một người không quen biết trên mạng xã hội Zalo vào khoảng 06 giờ ngày 07/10/2023 với số tiền 3.000.000 đồng được 50 gam. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, nhân viên giao hàng mang ma túy đến, H chia nhỏ số ma túy thành 25 túi nilon, mỗi túi khoảng 02 gam sau đó cất vào túi vải màu đỏ trên gác xép và bảo P vị trí cất ma túy để khi cần sẽ nhờ P bán hộ. Trong đó, H, P đã bán 06 túi ma túy “Tobacco” và mỗi người sử dụng 02 túi ma túy “Tobacco”. Vì P bán ma túy hộ H nên P sử dụng ma túy “Tobacco” mà không phải trả tiền. Số ma túy Cần sa do P mua trên mạng xã hội Facebook của một người không quen biết từ cuối tháng 8/2023 với số tiền 1.500.000 đồng được 05gam Cần sa, đã sử dụng cho bản thân hết, còn lại 01 túi Cần sa thì ngày 09/10/2023 khi T hỏi mua, H biết P có nên đã bảo P bán.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn T giao nộp 01 túi nilon, có khóa kẹp, bên trong chứa búp thực vật khô, màu xanh là ma túy Cần sa T mua của P nhưng chưa sử dụng hết và thừa nhận đã mua ma túy “Tobacco”, cần sa của Vũ Xuân H và Trần Lê P như trên.
- Kết luận giám định số 1507/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Vật chứng thu giữ của Phạm Văn T gửi giám định là ma túy, loại Cần sa, khối lượng là 0,181 gam (không phẩy một tám một gam). Mẫu vật sử dụng hết trong quá trình giám định.
- Kết luận giám định số 6857/KL-KTHS ngày 17/10/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Vật chứng thu giữ trên người Trần Lê P gửi giám định gồm 03 túi nilong bên trong chứa các sợi thực vật khô màu nâu có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, ma túy loại 5F-MDMB-PINACA và ma túy loại MDMB-CHMINACA, tổng khối lượng 5,493 gam. Hoàn lại sau giám định 3,517 gam trong phong bì niêm phong số 6857 (01)/KL-KTHS ngày 13/10/2023.
Vật chứng thu giữ của Trần Lê P và Vũ Xuân H gửi giám định gồm 12 túi nilon bên trong chứa các sợi thực vật khô màu nâu, đều có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, ma túy loại 5F-MDMB-PINACA và ma túy loại MDMB-CHMINACA, tổng khối lượng 25,222 gam. Hoàn lại sau giám định 18,666 gam trong phong bì niêm phong số 6857 (02)/KL-KTHS ngày 13/10/2023.
- Kết luận giám định số 1501/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của V Bộ C1, kết luận:
Phong bì ghi mẫu vật hoàn lại số 6857 (01)/KL-KTHS ngày 13/10/2023:
+ Hàm lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu gửi giám định là: 6,3%. Khối lượng MDMB-4en-PINACA trong 3,517 gam mẫu gửi giám định là: 0,221 gam.
+ Lượng MDMB-CHMINACA và 5F-MDMB-PINACA trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp phân tích nên không xác định được hàm lượng, khối lượng chất này trong mẫu gửi giám định.
Phong bì ghi mẫu vật hoàn lại số 6857 (02)/KL-KTHS ngày 13/10/2023:
+ Hàm lượng MDMB-4en-PINACA và MDMB-CHMINACA trong mẫu gửi giám định lần lượt là: 0,2% và 0,6%. Khối lượng MDMB-4en-PINACA và MDMB-CHMINACA trong 18,666 gam mẫu gửi giám định lần lượt là: 0,037gam và 0,111gam.
+ Lượng 5F-MDMB-PINACA trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp phân tích nên không xác định được hàm lượng, khối lượng chất này trong mẫu gửi giám định.
(Các chất 5F-MDMB-PINACA có STT số 54; MDMB-CHMINACA có STT số 238 và MDMB-4en-PINACA có STT số 241 thuộc mục IIC, danh mục II Nghị định số 27/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Về vật chứng: Mẫu vật được hoàn lại sau giám định; 01 túi vải màu đỏ; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone, màu trắng, gắn sim số 0962.348.540 thu giữ của Vũ Xuân H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu đen, gắn sim số 0866.931.294 thu giữ của Trần Lê P chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 245/2024/CT-VKSQY, ngày 10/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Vũ Xuân H và Trần Lê P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Xuân H và Trần Lê P đều khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu.
Người làm chứng, anh Phạm Văn T, có lời khai thừa nhận việc đã nhiều lần mua ma túy “Tobacco”, cần sa của Lê Xuân H3 và Trần Lê P. Những người làm chứng khác gồm anh Hoàng Văn T1 và anh Phạm C đều có lời khai xác nhận đã chở Phạm Văn T đến xưởng của P nhưng T không nói cho hai anh biết chở đến để mua ma túy.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng; đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Vũ Xuân H từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023, xử phạt Trần Lê P từ 7 năm tù đến 7 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a,b khoản 2 Điều 106 BLTTHS truy thu của bị cáo H 600.000đồng và của bị cáo P 200.000đồng để sung ngân sách nhà nước; tịch thu sung ngân sách nhà nước điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo, tịch thu tiêu hủy mâu vật hoàn lại sau giám định.
Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng đã truy tố đúng người đúng tội và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Các bị cáo nói lời sau cùng, đều đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về tội danh và căn cứ kết tội: tại phiên tòa các bị cáo Vũ Xuân H và Trần Lê P đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố:
Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Biên bản kiểm tra hành chính, Bản ảnh vật chứng, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Biên bản kiểm tra dữ liệu điện tử, Kết luận giám định... đủ cơ sở để HĐXX kết luận: Trong thời gian từ ngày 07/10/2023 đến ngày 10/10/2023, tại khu H, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Xuân H có hành vi bán trái phép chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA, 5F-MDMB-PINACA và MDMB-CHMINACA ba lần cho Phạm Văn T; trong đó Trần Lê P giúp H bán ma túy hai lần cho T. Ngoài ra, cả hai còn tàng trữ 30,715 gam các sợi thực vật khô chứa các chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA (0,258gam), MDMB-CHMINACA (0,111gam) và 5F-MDMB-PINACA (không xác định được khối lượng, hàm lượng) nhằm mục đích bán cho người khác.
Cáo trạng số 245/CT-VKSQY, ngày 10/4/2023 của VKSND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Vũ Xuân H và Trần Lê P là có căn cứ pháp luật.
Hành vi của Vũ Xuân H và Trần Lê P đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.
Xét tính chất mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, nhất là các loại tội phạm liên quan đến chất ma túy trên địa bàn ngày càng diễn biến phức tạp. Để góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi hiểm họa về chất ma túy trên địa bàn thị xã Q và giáo dục cải tạo các bị cáo, cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, với những chứng cứ nêu trên, HĐXX thấy có đủ căn cứ pháp luật để xét xử bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật. Vụ án có vai trò đồng phạm giản đơn, bị cáo H giữ vai trò đầu vụ, là người giới thiệu người mua và hướng dẫn P bán ma túy, số tiền thu lời bất chính cao hơn bị cáo P, hơn nữa là người có nhân thân xấu; bị cáo P thực hiện hành vi bán ma túy theo sự chỉ dẫn của H, số tiền thu lời bất chính ít hơn, và chưa có tiền án tiền sự, do đó bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo P.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo H nhân thân xấu. HĐXX xét với tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân bị cáo thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo chính bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều thu nhập thấp không ổn định, HĐXX thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Quá trình điều tra, không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho H và P nên không có căn cứ xử lý, HĐXX không đề cập.
Đối với Phạm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,181 gam ma túy Cần sa để sử dụng cho bản thân, Công an thị xã Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, HĐXX không đề cập.
Đối với anh Phạm C và Hoàng Văn T1 là người chở T nhưng không biết T đi mua ma túy, cơ quan điều tra, HĐXX không đề cập xử lý.
Đối với số tiền thu lời bất chính đối với bị cáo H 600.000đồng, bị cáo P 200.000đồng cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: số ma túy trong phong bì chứa mẫu vật, cơ quan giám định hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 túi vải màu đỏ cần tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone thu giữ của Vũ Xuân H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI thu giữ của Trần Lê P cần tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Vũ Xuân H và Trần Lê P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Vũ Xuân H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.
Xử phạt: Trần Lê P 07 (bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a điểm b điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1501/KL-KTHS và 01 (một) túi vải màu đỏ, được bàn giao trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, ngày 11/4/2024.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có gắn 01 sim điện thoại và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI có gắn 01 sim điện thoại, những vật chứng này có đặc điểm được bàn giao trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, ngày 11/4/2024.
Truy thu bị cáo Vũ Xuân H 600.000đồng, bị cáo Trần Lê P 200.000đồng sung ngân sách nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: áp dụng khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 11/4/202430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Buộc các bị cáo Vũ Xuân H và Trần Lê P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Diễn |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Xuân Hồng, Trần Lê Phong mua bán trái phép chất ma túy
