Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS – ST.

Ngày: 15/5/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Tính.

2. Bà Đào Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Văn H, sinh ngày: 02/9/1990 tại V, Vĩnh Phúc; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn K, sinh năm 1961 và bà Vũ Thị P, sinh năm 1964; Có vợ là: Nguyễn Thị T, sinh năm 2000; Có 01 con, sinh năm 2021, bố mẹ và vợ con bị cáo đều ở xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/1/2024 đến ngày 10/01/2024 Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam, hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 35 phút ngày 04/01/2024, tại khu vực gần cây xăng thuộc tổ B, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, kiểm tra một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này tự khai họ tên là Vũ Văn H – sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú: Đ, thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình kiểm tra, H tự giác lấy từ trong túi áo ngực đang mặc ra giao nộp 03 túi nilon màu xanh một đầu có khuy bấm, trong đó 02 túi nilon bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 01 túi nilon bên trong có 20 viên dạng nén màu xanh không rõ hình và khai nhận đây là 03 túi ma túy K1 và ma túy Kẹo của H mục đích để bán với giá 14.000.000 đồng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ 03 túi ma túy trên. Ngoài ra còn tạm giữ của H: Số tiền 1.000.000đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen, số imei 356079090688072 kèm sim số 0964533973. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với H, kết quả dương tính với chất ma tuý.

Ngày 05/01/2024, Cơ quan điều tra ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của H ở Đ, thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình khám xét không thu giữ gì.

Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 20 viên dạng nén màu xanh không rõ hình thu giữ của Vũ Văn H. Tại Bản kết luận giám định số 61/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K3 - Công an tỉnh P kết luận:

“-Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 02 (hai) túi nilon màu xanh một đầu có khuy bấm gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 13,823 gam.

- 20 viên dạng nén màu xanh không rõ hình chứa bên trong 01 (một) túi nilon màu xanh một đầu có khuy bấm gửi đến giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng là 7,763 gam.

* Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, số thứ tự: 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục IB, số thứ tự: 11, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hoàn trả lại 12,469 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 6,592 gam viên dạng nén màu xanh không rõ hình là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang, H khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 04/01/2024, H đi bộ từ nhà đến khu vực bờ đê thuộc thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích để tìm mua ma túy. Tại đây, H gặp và hỏi mua của một người đàn ông tên C, khoảng 30 tuổi (H không biết rõ họ tên, địa chỉ ở đâu) được 03 túi nilon màu xanh một đầu có khuy bấm, trong đó 02 túi nilon bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma tuý Ketamine và 01 túi nilon bên trong có 20 viên dạng nén màu xanh không rõ hình là ma tuý Kẹo với giá 10.000.000 đồng. Sau đó, H cầm 03 túi ma túy và đúc vào túi áo đang mặc rồi đi ra khu vực trung tâm xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Hoạt gọi Vũ Văn T1 – sinh năm 1995, hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (T1 là lái xe taxi) và bảo T1 chở lên thành phố V. Khi đi đến khu vực gần cây xăng thuộc tổ B, khu M, phường B, thành phố việt T, H bảo T1 dừng xe chờ ở ven đường còn H đi bộ cách đó một đoạn rồi đứng chờ xem có ai hỏi mua ma tuý thì bán với giá 14.000.000 đồng. Khi H đứng được một lúc thì có Tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, H còn khai nhận đã bán ma tuý cho Đỗ Đại T2 – sinh năm 1995, hộ khẩu thường trú: Xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ lời khai của H, Cơ quan điều tra đã triệu tập Đỗ Đại T2 đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H và T2 cùng khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 30/12/2023, H đang ở nhà thì T2 gọi điện qua ứng dụng zalo tên tài khoản “Đỗ T2” đến tài khoản zalo của H được đăng ký bằng số điện thoại 0964.533.xxx để hỏi mua 5.000.000 đồng tiền ma tuý Ketamine và 04 viên ma tuý Kẹo. H đồng ý và bảo T2 giá 01 viên ma tuý Kẹo là 350.000 đồng, tổng tiền mua 02 loại ma tuý là 6.400.000 đồng và T2 phải trả cho H 600.000 đồng tiền H đi taxi mang ma tuý cho T2. T2 đồng ý và chuyển 7.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V số [...] của T2 đến tài khoản ngân hàng V1 số [...] của H. Sau khi nhận được tiền của T2, H đi bộ từ nhà ra khu vực bờ đê gần nhà H để tìm mua ma tuý. Tại đây, H gặp và mua được của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (H không biết họ tên, địa chỉ ở đâu) được 04 túi nilon màu xanh, một đầu có khuy bấm, trong đó 01 túi nilon bên trong có 05 viên nén màu trắng đục không rõ hình là ma tuý Kẹo và 03 túi nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma tuý Ketamine với giá 6.000.000 đồng. H cầm túi ma tuý vừa mua được lấy 01 viên ma tuý Kẹo và 01 túi ma tuý Ketamine cất để sử dụng dần. Còn 04 viên ma tuý K2 và 02 túi ma tuý Ketamine, H cất giấu trong người rồi đi xe taxi của một người không quen biết lên khu vực ngã ba gần cổng nhà máy G thuộc thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để giao cho T2. Khi đến nơi, H đem số ma tuý trên đặt tại chân cột chỉ đường ở khu vực ngã ba gần cổng nhà máy G và chụp ảnh vị trí, gọi cho T2 đến lấy. Số ma tuý T2 mua của H, T2 đã sử dụng hết cho bản thân (Cơ quan điều tra kiểm tra kết quả xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với T2, kết quả T2 dương tính với chất ma tuý). Số ma tuý H cất giấu để sử dụng dần, H đã sử dụng hết. Số tiền bán ma tuý cho T2, H đã chi tiêu cá nhân hết.

Khối lượng ma túy mà H tàng trữ trái phép là 13,823 gam ma túy Ketamine và 7,763 gam ma túy MDMA. Căn cứ Khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma tuý thì tỷ lệ phần trăm về khối lượng ma tuý MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 25,876%; tỷ lệ phần trăm về khối lượng ma túy Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 13,823%. Do tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy MDMA và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại Khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 25,876% + 13,823% = 39,699% (Dưới 100%) nên tổng khối lượng của MDMA và Ketamine trong trường hợp này thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng và tài sản đã thu giữ, kết quả điều tra xác định:

  • - 01 bì niêm phong số 61/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K3 - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 12,469 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 6,592 gam viên dạng nén màu xanh không rõ hình là ma túy Ketamine và ma túy MDMA của Hoạt mục đích để bán.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen, số imei 356079090688072 kèm sim số 0964533973 là của H sử dụng để trao đổi mua bán ma tuý với T2.

Hiện các vật chứng và tài sản trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.

  • - Số tiền 1.000.000 đồng là tiền của H đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS-VT ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã truy tố bị cáo Vũ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vũ Văn H, Đại diện VKSND thành phố Việt Trì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tôi “ Mua bán trái phép chất ma túy”

  • - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ: 7 (bẩy) năm đến 7 (bẩy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) của bị cáo Vũ Văn H.
  • - Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a. b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tuyên:
  • + Tịch thu tiêu hủy 12,469 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 6,592 gam viên dạng nén màu xanh không rõ hình cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đựng trong 01 phòng bì niêm phong có số: 61/KL – KTHS của Phòng K3 Công an tỉnh P.
  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0964.533.973 của Vũ Văn H.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ màn hình bị nứt vỡ số IMEI1(trong nguồn): 356079090688072.
  • - Truy thu số tiền 7.000.000đ (bẩy triệu đồng) là tiền bị cáo đã bán ma tuý cho Đỗ Đại T2.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện VKSND TP Việt Trì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết dịnh tố tụng: Quá trình điều tra Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 35 phút ngày 04/01/2024, tại khu vực gần cây xăng thuộc tổ B, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vũ Văn H đang tàng trữ trái phép khối lượng 7,763 gam ma túy MDMA và 13,823 gam ma túy Ketamine mục đích để bán thì bị Tổ công tác Công an thành phố V bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, H còn 01 lần bán trái phép chất ma tuý Ketamine và MDMA cho Đỗ Đại T2 thu lời số tiền 7.000.000 đ (bẩy triệu đồng)

Bị cáo Vũ Văn H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì lòng tham, lười lao động, bị cáo đã bất chấp pháp luật. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện ma túy đang diễn ra phức tạp, tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi một phần chính là có sự tiếp tay của bị cáo. Vì vậy, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tạiđiểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi bị cơ quan điều tra bắt quả tang về hành vi tàng trữ ma tuý với mục đích để bán, bị cáo đã khai trước đó vào ngày 30/12/2023 bị cáo có bán ma tuý cho Đỗ Đại T2 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

Xét hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, cần có mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo khỏi cộng đồng tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Mức hình phạt mà đại diện VKSND TP Việt Trì tại phiên tòa đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 12,469 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 6.592 gam viên dạng nén màu xanh không rõ hình mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đựng trong 01 phòng bì niêm phong có số: 61/KL – KTHS của Phòng K3 Công an tỉnh P là chất ma túy nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01sim số 0964.533.973 của Vũ Văn H không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ màn hình bị nứt vỡ số IMEI1(trong nguồn): 356079090688072 của bị cáo Vũ Văn H sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào kết quả xác minh của cơ quan điều tra ngoài đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, bị cáo không có tài sản riêng nào khác ngoài số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) bị cơ quan điều tra thu giữ khi bắt quả tang, số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[6] Đối với số tiền 7.000.000đ (bẩy triệu đồng) Vũ Văn H bán ma tuý cho Đỗ Đại T2, đây là số tiền bị cáo phạm tội mà có và đã tiêu xài hết nên cần buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách nhà nước.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với 02 người đàn ông bán ma túy cho H ở khu vực gần bờ đê thuộc xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, ngoài lời khai của H, không có tài liệu nào khác để chứng minh. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định được 02 người đàn ông như H đã khai và nguồn gốc số ma túy của H.

Đối với người lái xe taxi chở H đi bán ma tuý ngày 30/12/2023, H không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, không nhớ biển kiểm soát xe, hãng xe gì nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ, HĐXX không xem xét.

Đối với Vũ Văn T1 là người lái xe taxi chở H đi bán ma tuý ngày 04/01/2024, T1 không biết H cất giấu ma tuý trong người để đi bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt cảnh cáo là đúng quy định.

Đối với Đỗ Đại T2 là người mua ma túy của H mục đích để sử dụng cho bản thân, T2 đã sử dụng hết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định khối lượng ma túy của T2. T2 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về các tội quy định tại các Điều 248, 249, 250, 251, 252 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T2 về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 24/01/2024, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000 đồng (T2 đã nộp phạt xong) là đúng quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Xử phạt: Bị cáoVũ Văn Hoạt 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
  2. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu hủy 12,469 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 6.592 gam viên dạng nén màu xanh không rõ hình là mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đựng trong 01 phòng bì niêm phong có số: 61/KL – KTHS của Phòng K3 Công an tỉnh P.
    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0964.533.973 của Vũ Văn H.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ màn hình bị nứt vỡ số IMEI1(trong nguồn): 356079090688072.
    • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).
  3. Buộc bị cáo Vũ Văn H phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.000.000đ (bẩy triệu đồng).
  4. Hình phạt bổ sung: Tịch thu xung công quỹ nhà nước số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) của vũ Văn H1. (Theo biên lai nộp tiền số 0004638 ngày 23/4/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).
  5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND Tp Việt Trì;
  • - Cơ quan CSĐT CA Tp Việt Trì;
  • - Phòng Hồ sơ NV CA TP Việt Trì;
  • - Chi cục THA DSTP Việt Trì;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS – ST. ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 53/2024/HS – ST.
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger