|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
1
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14/6/2024
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa
Các Hội Thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Văn Thừa
2/ Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp: “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 131/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1984 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Bửu D, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Do chị Nguyễn Thị Mỹ H đã quen biết anh Nguyễn Bửu D từ trước, nên giữa chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Phan Bửu D1 phát sinh tình cảm, được sự thống nhất của gia đình nên chị H và anh D1 tiến tới hôn nhân vào năm 2017, thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ vào năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm sống, không có sự đồng cảm và quan tâm nhau trong cuộc sống vợ chồng, từ đó đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay chị H không còn tình cảm với anh D1 nên đề nghị Tòa án xem xét cho ly hôn.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trung K- sinh ngày 07/7/2017. Hiện cháu K đang sống với chị H nên khi ly hôn chị H yêu cầu Tòa án xem xét cho chị H được quyền tiếp nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H yêu cầu anh Nguyễn Bửu D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Nếu anh D không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con thì chị H cũng không yêu cầu.
Về chia tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
2. Theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và tại phiên tòa anh Nguyễn Bửu D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Bửu D với chị Nguyễn Thị Mỹ H là tự nguyện, cả 02 quen biết nhau từ trước được sự thống nhất của gia đình nên cả 02 tiến tới hôn nhân vào năm 2017, thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ vào năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc và có sự phân công anh Nguyễn Bửu D chịu trách nhiệm chính trong việc tạo thu nhập cho gia đình, còn chị H ở nhà nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, thời gian gân đây chị H tự ý bỏ nhà đi làm mà không cho anh D và gia đình hay biết, cũng không cho biết đi làm gì và ở đâu, bỏ con cái không ai chăm sóc. Nay anh Nguyễn Bửu D xác định còn thương yêu chị H nên không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét cho vợ chồng được đoàn tụ.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trung K - sinh ngày 07/7/2017, do không đồng ý ly hôn nên anh D đề nghị chị H đưa con về nhà để vợ chồng cùng nhau chăm sóc và nuôi dạy con cái nên người. Trường hợp chị H kiên quyết ly hôn thì anh D cũng đồng ý giao cháu K cho chị H nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành. Anh Nguyễn Bửu D không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về Tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Bửu D, xét đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Chị Nguyễn Thị Mỹ H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt được Tòa chấp nhận. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị chị H.
[2] Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Nguyễn Bửu D có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên quan hệ hôn nhân này là hợp pháp, khi phát sinh tranh chấp Toà án xem xét giải quyết theo thủ tục chung.
[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa Nguyễn Thị Mỹ H và anh Nguyễn Bửu D: Theo trình bày của chị H do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm sống, anh D không chăm sóc gia đình mà tụ tập bạn bè ăn chơi, vợ chồng thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Về phía anh D cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị H bỏ bê gia đình, không quan tâm chăm sóc con cái. Tại tòa, chị H và anh D không giải quyết dứt điểm mâu thuẫn vợ chồng, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt và kiên quyết xin ly hôn với anh D vì không còn tình cảm vợ chồng với anh D. Về phía anh D đề nghị được đoàn tụ vợ chồng nhưng không có biện pháp nào để hàn gắn tính cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân giữa chị H và anh D mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, nên Tòa án chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với anh Nguyễn Bửu D.
[4] Về nuôi con chung: Xét con chung của chị H và anh D tên: Nguyễn Trung K - sinh ngày 07/7/2017, hiện đang sống với chị H và chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành và anh Nguyễn Bửu D cũng đồng ý nên Tòa án giao cháu K cho chị Nguyễn Thị Mỹ H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Bửu D không không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung, chị H cũng không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung: Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho đương sự theo quy định của pháp luật, không ai được ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
[7] Về chia tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét.
[8] Về nghĩa vụ chung: Đương sự khai không có, tòa án không xem xét.
[9] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có hiệu lực 01.01.2015;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc án phí, lệ phí.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Bửu D.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỹ H với anh Nguyễn Bửu D.
- Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trung K, sinh ngày 07/7/2017 cho chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Bửu D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung: Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho Nguyễn Bửu D theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản chung: Đương sự không yêu cầu, Toà án không xem xét.
- Về nghĩa vụ chung: Đương sự khai không có, Toà án không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp với số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0008001 ngày 23/4/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Chị Nguyễn Thị Mỹ H đã thực hiện xong.
3. Về quyền kháng cáo: Tuyên án công khai các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hay niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tớithi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Đăng Khoa |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: do mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng không thể hàn gắn nên các đương ly hôn
