Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 53/2023/HS-ST

Ngày: 13-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán– Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tạo và ông Võ Xuân Nghi

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tâm– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Duẫn – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2023/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thái D, sinh ngày: 27/12/1982, tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố D, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; học vấn: 04/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1946 và con bà Trần Thị D1; vợ Hoàng Thị X, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án: Ngày 19/10/2021, Nguyễn Thái D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tuyên phạt 13 (mười ba) tháng tù giam tại Bản án số 43/2021/HS-ST ngày 19/10/2021 (chưa xóa án tích); tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 10/12/2003, Nguyễn Thái D bị Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính 600.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng (được coi là chưa bị xử phạt hành chính). Ngày 26/12/2018, Nguyễn Thái D bị Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (được coi là chưa bị xử phạt hành chính); ngày 21/9/2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (án có hiệu lực pháp luật). Bị cáo hiện bị tạm giam trong một vụ án khác. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Thái H, sinh ngày 12/12/1985, tại phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hồng C và bà Hoàng Thị B; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Năm 2002, Hoàng Thái H bị Ủy ban nhân dân tỉnh Q ra Quyết định số: 869/QĐ-UB ngày 02/5/2002 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, với thời hạn là 24 (hai mươi tư) tháng nhưng chưa chấp hành thì phạm tội Trộm cắp tài sản, Ngày 09/8/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tuyên phạt 06 (sáu) tháng tù “về tội “Trộm cắp tài sản” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng; Ngày 25/02/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình tuyên phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 19/HS- ST ngày 25/02/2004; Ngày 01/6/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tuyên phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 25/2012/HS-ST ngày 01/6/2012; Ngày 19/6/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tuyên phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 33/2013/HSST ngày 19/6/2013; Ngày 14/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 29/2017/HSST ngày 14/11/2017; Ngày 05/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 06/2019/HSST ngày 05/3/2019; Ngày 21/9/2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (án đã có hiệu lực pháp luật). Bị cáo bị tạm giam trong một vụ án khác. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Ngọc C1, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Đoàn Anh D2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

+ Ông Đoàn Văn K, sinh năm: 1978; nơi cư trú: tổ dân phố T, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 17/5/2023, Nguyễn Thái D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Jupiter, màu sơn đen, BKS: 73K1-027.88 chở theo Hoàng Thái H đến nhà bạn ở thôn P, xã Q, huyện Q để chơi nhưng lúc đến không có ai ở nhà nên D và H điều khiển xe quay về, trên đường đi qua khu vực đường nội thôn P, xã Q, huyện Q, D và H phát hiện phía trước đường có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Jupiter Gravita, màu sơn đen bạc, BKS: 73N7-4365 dựng sát cạnh hàng rào nhà ở của anh Trần Ngọc C1. Khi đến gần, thấy chìa khóa xe vẫn đang cắm trên ổ khóa và nhìn xung quanh không có người trông coi, lúc này D liền nảy sinh ý định trộm cắp, D rủ H lấy trộm tài sản, H đồng ý. Cả hai dừng xe bên đường, D xuống xe đi đến vị trí xe mô tô để thực hiện hành vi trộm cắp, còn H ngồi cảnh giới, D đến vị trí xe mô tô mở khóa và điều khiển xe chạy đi, H điều khiển xe chạy theo sau. Sau khi lấy trộm, D điều khiển xe mô tô đến xã Q, đến khu vực xã Q, thị xã B, thấy có một quán sửa chữa xe mô tô ở ven đường, D dừng lại, mượn chiếc cà lê rồi tháo biển kiểm soát của xe và tiếp tục di chuyển. Khi đến địa phận thôn V, xã Q, thị xã B, D vứt biển kiểm soát trên ở mép bờ sông, sau đó đến nhà của anh Đoàn Anh D2. Tại đây, D trao đổi mượn số tiền 1.000.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được cho D2 quản lý, khi nào có tiền trả sẽ đến lấy, D2 đồng ý, số tiền trên D và H đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 31/5/2023, Phòng K1 - Công an tỉnh Q có Kết luận giám định số 558/KL-KTHS, kết luận: Số khung hiện tại “RLCJ5B9509Y042943”, số máy hiện tại “5B95-042940” của xe mô tô không mang biển kiểm soát, ghi nhận nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER GRAVITA gửi giám định là số khung, số máy nguyên thủy.

Ngày 29/5/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Q có Kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐGTS, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Gravita, màu sơn đen bạc, không gắn biển kiểm soát, số máy: 5B95042940, số khung: RLCJ5B9509Y042943, mua vào tháng 6/2017, tại thời điểm tháng 5/2023 là 9.000.000 đồng.

Về vật chứng và xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Gravita, màu sơn đen bạc, số máy: 5B95042940, số khung: RLCJ5B9509Y042943, không có biển số xe, xe đã qua sử dụng.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Nguyễn Thái D, Hoàng Thái H đã sử dụng phương tiện là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter RC, màu sơn đen, BKS: 73K1-02788, số khung: PB30EY063143, số máy: 1PB3063144, đã qua sử dụng. Chiếc xe mô tô đặc điểm nêu trên là phương tiện có liên quan đến một vụ án khác hiện đang được Cơ quan CSĐT Công an thị xã B thụ lý và nhập kho vật chứng vào ngày 25/5/2023. Chuyển vật chứng để xét xử: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Gravita, màu sơn đen bạc, số máy: 5B95042940, số khung: RLCJ5B9509Y042943, không có biển số xe, xe đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 06/7/2023, các bị cáo Nguyễn Thái D, Hoàng Thái H và anh Đoàn Anh D2 tiến hành thỏa thuận về vấn đề dân sự của vụ án. Quá trình thỏa thuận, anh D2 không yêu cầu các bị cáo D và H phải bồi thường dân sự với số tiền 1.000.000 đồng đã mượn trước đây. Hai bên cam kết không khiếu kiện, khiếu nại gì liên quan đến phần dân sự của vụ án. Ông Trần Ngọc C1 không có yêu cầu các bị can phải bồi thường dân sự liên quan đến vụ án trên.

Tại Cáo trạng số: 47/CT-VKSQT ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thái D từ 20 tháng đến 24 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thái H từ 20 tháng đến 24 tháng tù; về trách nhiệm dân sự: không đề nghị xem xét; về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị hại ông Trần Ngọc C1 (người quản lý hợp pháp): 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Gravita, màu sơn đen bạc, số máy: 5B95042940, số khung: RLCJ5B9509Y042943, không có biển số xe, xe đã qua sử dụng. Buộc các bị cáo Nguyễn Thái D, Hoàng Thái H chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thái D, Hoàng Thái H đồng ý với Bản luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về tội danh, khung hình phạt và không có gì tranh luận.

Nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H đã thừa nhận và khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình: Vào khoảng 08 giờ, ngày 17/5/2023, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý và bảo vệ tài sản của bị hại, Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Gravita, màu sơn đen bạc, số máy: 5B95042940, số khung: RLCJ5B9509Y042943, của ông Trần Ngọc C1 với giá trị tài sản chiếm đoạt là 9.000.000 đồng. Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, nhưng chỉ vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Thái D có một tiền án về tội “Tàng trữ trữ phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Thái H có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị tòa án nhân dân các cấp xét xử về các tội trộm cắp tài sản và cướp tài sản. Vì vậy, cần thiết phải quyết định một mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng T Hoàn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Liên quan đến vụ án trên, anh Phạm Văn H1, sinh năm 1981, trú tại Tổ dân phố B, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô BKS: 73K1-02788, là phương tiện mà D và H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định, xe là do anh H1 cho Dương m, anh H1 không biết D sử dụng chiếc xe mô tô trên để phạm tội; D cũng không bàn bạc gì với anh H1 về việc trộm cắp tài sản. Do đó, anh Phạm Văn H1 không đồng phạm với các bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H về tội Trộm cắp tài sản. Hiện chiếc xe mô tô BKS: 73K1-02788 đang bị tạm giữ, xử lý trong vụ án khác.

Đối với anh Đoàn Anh D2 là người đã cho bị cáo Nguyễn Thái D mượn số tiền 1.000.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô trộm cắp cho anh D2 quản lý. Quá trình trao đổi mượn tiền và nhận tài sản từ các bị cáo, anh D2 không biết tài sản trên là do các bị cáo phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xác định anh Đoàn Anh D2 về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Gravita mà bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H trộm cắp vào ngày 17/5/2023 đứng tên chủ sở hữu phương tiện là anh Đoàn Văn K, sinh năm 1978, trú tại tổ dân phố T, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Vào năm 2012, anh K bị kẻ gian lấy trộm xe mô tô nói trên, nhưng không trình báo cho Cơ quan Công an. Đến năm 2017, anh Trần Ngọc C1, sinh năm 1962, trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (hiện tại là người quản lý và sử dụng) mua lại chiếc xe trên từ một người không quen biết. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và xét xử không có cơ sở để xác định ông C1 là người có liên quan trộm cắp xe vào năm 2012 của anh Đoàn Văn K. Xét thấy cần xem xét xử trả lại chiếc xe trên cho người quản lý, sử dụng hợp pháp là ông Trần Văn C2 theo đúng quy định pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 06/7/2023, các bị cáo Nguyễn Thái D, Hoàng Thái H và anh Đoàn Anh D2 đã tiến hành thỏa thuận về vấn đề dân sự của vụ án. Quá trình thỏa thuận, anh D2 không yêu cầu các bị cáo D và H phải bồi thường dân sự với số tiền 1.000.000 đồng đã mượn trước đây. Ông Trần Ngọc C1 không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự liên quan đến vụ án trên. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[6] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho ông Trần Ngọc C1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Gravita, màu sơn đen bạc, số máy: 5B95042940, số khung: RLCJ5B9509Y042943, không có biển số xe, xe đã qua sử dụng.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thái D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Tổng hợp với 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 38/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Buộc bị cáo Nguyễn Thái D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Thái D bị tạm giữ, tạm giam theo Bản án số 38/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình là ngày 20/5/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Thái H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Tổng hợp với 09 (C3) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 38/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Buộc bị cáo Hoàng Thái H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Hoàng Thái H bị tạm giữ, tạm giam theo Bản án số 38/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình là ngày 20/5/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự:

không xem xét thêm.

4. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị hại ông Trần Ngọc C1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Gravita, màu sơn đen bạc, số máy: 5B95042940, số khung: RLCJ5B9509Y042943, không có biển số xe, xe đã qua sử dụng. Vật chứng trên có đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm:

khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Thái D và Hoàng Thái H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/10/2023 (đối với những người có mặt tại phiên tòa) và trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật (đối với những người vắng mặt tại phiênn tòa).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Công an huyện Quảng Trạch;
  • - VKSND huyện Quảng Trạch;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Trạch;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2023/HS-ST ngày 13/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 53/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thái D và đồng phạm bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger