TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM'GAR TỈNH ĐẮK LẮK
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 9 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM'GAR
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bế Văn Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Hương và ông Nguyễn Văn Mạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 202/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung” giữa các đương sự: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QÐST - HNGĐ ngày 06/8/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị H Buên K, sinh năm 1995 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Buôn H, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.
* Bị đơn: Anh Y Khang N, sinh năm 1992, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Buôn S, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 03/6/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị H Buên Kđoh trình bày:
Tôi và anh Y Khang N tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 12 tháng 3 năm 2014, tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi về chung sống với nhau cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn. Vài năm gần đây vợ chồng không còn hợp quan điểm sống, phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng tính cách không còn hợp nhau nên thường xuyên cãi nhau, anh Y Khang N và tôi hiện nay đã sống ly thân không ai quan tâm đến nhau, không còn liên lạc. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tôi cũng không còn tình cảm với anh Y Khang N nữa, nên tôi làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng tôi được ly hôn.
- Về con chung: Tôi và anh Y Khang N có 01 con chung:
+ Cháu Y Phat K1, sinh ngày 01/6/2014.
- Hiện nay con ở với tôi và do tôi nuôi ăn học, còn anh Y Khang N bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại xã C, không trực tiếp nuôi con nên Tôi đề nghị tòa án giải quyết giao con cho tôi trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi;
- Về cấp dưỡng nuôi con do chúng tôi tự thỏa thuận, tôi không yêu cầu tòa giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Y Khang N mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Y Khang N vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự
trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng:
Đối với Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H Buên Kđoh, tuyên xử chị H Buên Kđoh được ly hôn với anh Y Khang N.
+ Về con chung: Giao con chung là cháu Y Phat K1, sinh ngày 01/6/2014 cho chị H Buên Kđoh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với bị đơn có nơi cư trú tại xã C, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Qua xác minh tại địa phương ngày 22/7/2024, anh Y Khang N, cư trú tại Buôn S, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Lăk. Mặc dù tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Y Khang N nhưng anh Y Khang N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt anh Y Khang N là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Chị H Buên K và anh Y Khang N tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 3 năm 2014, tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện CưM'gar theo đúng quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Qua lời khai của chị H Buên K và xác minh tại địa phương đều cho thấy quá trình chung sống, chị H Buên Kđoh và anh Y Khang N thường mâu thuẫn, hay cãi vã, hai vợ chồng hiện nay đã ly thân và không còn liên lạc với nhau, anh Y Khang N bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã C sinh sông, không sống chung với nhau nữa. Trong thời gian đó hai bên không có biện pháp nào để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, việc chị H Buên Kđoh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn với anh Y Khang N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị H Buên Kđoh và anh Y Khang N có 01 con chung là cháu Y Phat K1, sinh ngày 01/6/2014. Qua lời khai của chị H Buên Kđoh và Biên bản xác minh tại địa phương ngày 29/7/2024, cho thấy hiện nay con đang sống cùng chị H Buên Kđoh tại xã C M'nông, và do chị H Buên Kđoh trực tiếp nuôi ăn học. Còn anh Y Khang N bỏ về nhà bố mẹ tại xã C, không sống chung và chăm lo cho con. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị H Buên K, giao con chung cho chị H Buên Kđoh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Buên Kđoh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu tòa án giải quyết.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Buên Kđoh.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H Buên Kđoh được ly hôn với anh Y Khang N.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Y Phat K1, sinh ngày 01/6/2014 cho chị H Buên Kđoh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Buên Kđoh không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Y Khang N được quyền đi lại thăm nom con chung, chị H Buên Kđoh không được ngăn cản quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Chị H Buên Kđoh phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0007674 ngày 10/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bế Văn Toàn |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H Buên Kđoh được ly hôn với anh Y Khang N. 2. Về con chung: Giao con chung là cháu Y Phat K1, sinh ngày 01/6/2014 cho chị H Buên Kđoh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
