|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 13 - 6 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Lịch;
Ông Nguyễn Hải Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 2001 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1979; chưa có vợ, con;
Tiền án: Ngày 24/8/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/9/2023 .
Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
- Bị hại:
- Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 2002; địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Trần Văn H, sinh năm 1978. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1975. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, mới chấp hành xong hình phạt tù, do không có việc làm ổn định nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Cupmoto màu đỏ, biển kiểm soát 36N6 – 5315 đi từ nhà ở Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H theo đường đê ven biển để quan sát, nếu thấy chiếc xe mô tô nào của người dân đi đánh bắt hải sản không có người trông coi thì trộm cắp.
Đến 15 giờ cùng ngày, khi đi qua cống Hạ Trại thuộc xóm X, xã H, huyện H, T phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu FAVOUR màu đỏ đen, biển kiểm soát 72X1 - 5179 của anh Ngô Văn Đ dựng trên đê biển, không khóa cổ, khóa càng, không có chìa khóa điện, T điều khiển xe đi qua khoảng 200m thì dừng lại, để chiếc xe mô tô của mình ở trên mặt đê rồi đi bộ quay lại đạp khởi động xe mô tô biển kiểm soát 72X1 - 5179 nổ được máy, sau đó T điều khiển xe đi đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Trần Văn H ở xóm A, xã H, huyện H bán được 800.000 đồng rồi thuê xe ôm quay lại khu vực đê biển thuộc xóm X, xã H để lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36N6 - 5315 của mình đi về nhà.
Cũng với thủ đoạn như trên, khoảng 09 giờ 45 phút ngày 12/4/2024, Nguyễn Văn T đi đến khu vực đê biển thuộc xóm X, xã H phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu SKYWAY dạng xe Dream, sơn màu nâu, biển kiểm soát 18Z6 - 7369 của anh Nguyễn Văn Đ1 đang dựng trên đê biển, chìa khóa cắm ở ổ khóa cốp dưới yên, không có người trông coi, T ngồi lên xe lấy chìa khóa mở khóa điện, nổ máy, điều khiển xe đi theo đường đê biển đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Trần Văn H ở xóm A, xã H để bán thì bị Công an xã H phát hiện thu giữ chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 72X1 - 5179 do anh Trần Văn H tự nguyện giao nộp đã mua của Nguyễn Văn T ngày 03/4/2024 và tạm giữ xe mô tô, biển kiểm soát 36N6 - 5315 của T, sau đó bàn giao cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Đồng thời, cơ quan điều tra ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T và tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu SKYWAY dạng xe Dream, sơn màu nâu, biển kiểm soát 18Z6 - 7369. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và tác động gia đình tự nguyện bồi thường số tiền 800.000 đồng cho anh Trần Văn H. Sau khi nhận số tiền trên, anh H không có yêu cầu, đề nghị thêm về phần dân sự.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu FAVOUR màu đỏ đen, biển kiểm soát 72X1 - 5179 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá trên thị trường là 900.000 đồng; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu SKYWAY dạng xe Dream, sơn màu nâu, biển kiểm soát 18Z6 - 7369 đã qua sử dụng có giá là 970.000 đồng. Tổng giá trị 02 chiếc xe là 1.870.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc xe bị chiếm đoạt cho anh Ngô Văn Đ và anh Nguyễn Văn Đ1. Sau khi nhận lại tài sản, các bị hại không có đề nghị về phần dân sự và yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKSHH ngày 28/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2024. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng; áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; tuyên trả cho bà Nguyễn Thị S 01 xe mô tô, biển kiểm soát 36N6 - 5315.
Trong phần tranh luận: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng bị cáo nhận tội, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của các bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào các ngày 03/4/2023 và 12/4/2023, tại khu vực đê biển thuộc địa bàn xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu FAVOUR màu đỏ đen, biển kiểm soát 72X1-5179 trị giá 900.000 đồng của anh Ngô Văn Đ và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SKYWAY dạng xe Dream, sơn màu nâu, biển kiểm soát 18Z6-7369 trị giá 970.000 đồng của anh Nguyễn Văn Đ1. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 1.870.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng). Mặc dù tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng do Nguyễn Văn T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản tại Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
... b) Đã bị kết án về tội này ..., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”
- [3] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác; gây mất trật tự công cộng; ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do cần tiền ăn tiêu cá nhân đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bản thân bị cáo đã từng bị Toà án kết án phạt tù, phải đi chấp hành án tại trại giam nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân. Vì vậy, cần xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
- [4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu; có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng đã được áp dụng là tình tiết định tội nên không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình trả lại số tiền bán xe mô tô trộm cắp cho người mua nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [5] Về áp dụng hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự; tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
- [6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: 02 chiếc xe mô tô bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại nguyên vẹn cho các bị hại, gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 800.000 đồng bị cáo bán xe cho anh Trần Văn H. Đến nay anh Trần Văn H và các bị hại anh Ngô Văn Đ, anh Nguyễn Văn Đ1 đều không có yêu cầu về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Cupmoto màu đỏ, biển kiểm soát 36N6 – 5315 đã thu giữ của Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị S là mẹ đẻ của bị cáo, bà S không biết bị cáo mượn sử dụng xe để đi thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bà S quản lý, sử dụng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- [9] Về các vấn đề khác: Đối với anh Trần Văn H đã mua xe chiếc xe mô tô của Nguyễn Văn T vào ngày 03/4/2024 với giá 800.000 đồng nhưng anh H không được bàn bạc, hứa hẹn từ trước, không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm là phù hợp pháp luật.
- [10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
- [11] Quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Trả cho bà Nguyễn Thị S 01 xe mô tô nhãn hiệu Cupmoto màu đỏ, biển kiểm soát 36N6 - 5315.
Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Trung Kiên |
6
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Trộm cắp tài sản
