Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/DS-ST

Ngày: 13-5-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bành Văn Hải;
  2. Bà Hoàng Thị Thanh Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hậu, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lâm Phượng Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 298/2022/TLST-DS ngày 25-10-2022 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phan Thanh N, sinh năm 1953; (có mặt)
  2. Bà Hà Thị Tuyết M, sinh năm 1959; (có đơn xin vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

  3. Bị đơn: Anh Trần Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
  4. Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Thanh Q, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền. (Văn bản ủy quyền ngày 23-8-2023) (có mặt)

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2

  1. Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thành T – Chi cục trưởng (có đơn xin vắng mặt)

  3. Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1981; (có đơn xin vắng mặt)
  4. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1982; (có mặt)

    Cùng địa chỉ: Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

  5. Bà Võ Thị Anh T2, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
  6. Bà Bành Thị H, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ B, ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25-10-2022 và trong quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn ông Phan Thanh N trình bày:

Ông có một phần đất phía sau đất của anh T1, chị C và đất của bà H, tức là nếu đi vào đất ông thì phải đi qua đất của anh T1, chị C, sau đó qua đất bà H mới đến đất của ông. Trước đây ông có thuê của anh T1, chị C diện tích 2m ngang x dài hết đất để ông có đường đi vào đất, thời hạn thuê là 08 năm (từ năm 2017 đến năm 2025) với số tiền 3.000.000 đồng, hai bên có làm hợp đồng thuê đất; phía bà H thì cho ông đi nhờ, ngược lại ông phải cho bà H đi trên đất ông thuê của anh T1, chị C. Năm 2018 bà H mua lại diện tích 1,5m x dài hết đất của anh T1 chị C để đi vào đất, đây là phần đất mà ông thuê của anh T1, chị C; ông làm giấy bán đất giùm cho bà H. Năm 2018, bà H chuyển nhượng đất cho ông diện tích 08m x 42m giáp ranh đất ông nên bà H bán luôn cho ông phần đất 1,5m x dài hết đất đã mua của anh T1, chị C với số tiền 30.000.000 đồng, có làm giấy nhượng đất ngày 29-3-2018. Đối với diện tích 08m ngang nhận chuyển nhượng của bà H thì ông đã được sang tên, phần còn lại 1,5m x dài hết đất thì anh T1, chị C chưa tách thửa sang tên cho ông. Ông không biết việc vay mượn, chuyển nhượng đất của vợ chồng anh T1 như thế nào nhưng nay anh Trần Nguyễn Hoàng P đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đó ông yêu cầu anh P tách thửa sang tên cho ông diện tích sau khi đo đạc thực tế là 60,6m² thuộc một phần thửa 270 tờ bản đồ số 7.

Bà Hà Thị Tuyết M trình bày: Vợ chồng bà là chủ sử dụng phần đất thửa 355, tờ bản đồ số 7; toạ lạc tại ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Theo hướng Bắc tiếp giáp đất của bà Bành Thị H và sau đó là đất anh Phạm Văn T1, chị

3

Nguyễn Thị C (thửa 270, tờ bản đồ số 7) để đi ra đường Đ. Do đất của bà nằm vị trí phía trong không có lối đi nên rất khó khăn trong việc canh tác, vận chuyển phân bón, thuốc men, cây giống.... Để có lối đi ra đường ĐH 11 thì ngày 26-5-2017 vợ chồng bà thuê đất của vợ chồng anh T1, chị C kích thước ngang 2m x dài hết đất; thời hạn thuê 08 năm từ ngày 01-6-2017 đến 01-6-2025; với giá thuê là 3.000.000 đồng, vợ chồng bà đã giao tiền thuê xong cho anh T1, chị C. Đến ngày 24-02-2018 thì anh T1, chị C chuyển nhượng phần đất chiều ngang 1,5 m x dài hết đất (nằm ở vị trí vợ chồng bà thuê) cho bà H, các bên có làm giấy bán đất và đến ngày 29-3-2018 thì bà H chuyển nhượng một phần diện tích đất ngang 8 m x dài 42,12 m cho vợ chồng bà, đồng thời chuyển nhượng luôn phần đất 1,5m ngang đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng anh T1 với giá 30.000.000 đồng, các bên làm giấy nhượng đất, vợ chồng bà đã giao tiền xong cho bà H. Đối với diện tích đất ngang 8m x dài 42,12m đã thực hiện xong thủ tục chuyển nhượng, hợp thửa và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 6472 m², thửa 355, tờ bản đồ số 7. Vợ chồng bà sử dụng phần đất nói trên để làm lối đi ra đường ĐH 11 và cũng tạo điều kiện cho bà con có đất ở phía trong đi nhờ. Vợ chồng bà đã nhiều lần yêu cầu anh T1, chị C làm thủ tục tách phần diện tích 1,5 m x dài 41,45 m, thửa 270, tờ bản đồ số 7 để lập thủ tục đăng ký hợp thửa phần nhận chuyển nhượng vào thửa đất của vợ chồng bà, anh T1, chị C hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện. Kéo dài thời gian đến ngày 14-5-2022 ông Q có hành vi đập phá cột rào, cột ranh bằng xi măng mà gia đình bà đã cắm tại phần diện tích 1,5 m x dài 41,45 m, không cho bà sử dụng đất. Qua tìm hiểu, bà được biết anh T1, chị C đã chuyển nhượng thửa đất 270 tờ bản đồ số 7 cho anh P (con rể của ông Q) và anh P đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà yêu cầu Tòa án xác định phần diện tích đất chiều ngang 1,5 m x dài 41,45 m, thửa 270, tờ bản đồ số 7; toạ lạc tại ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh mà anh Trần Nguyễn Hoàng P đang đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ là của gia đình bà.

Bị đơn – anh Trần Nguyễn Hoàng P và đại diện theo ủy quyền của anh Trần Nguyễn Hoàng P là ông Vũ Thanh Q trình bày:

Ông là ba vợ của anh Trần Nguyễn Hoàng P. Phần đất diện tích 437m² thửa 270 tờ bản đồ số 7 là do ông mua cho anh P, nên để anh P đứng tên bên nhận chuyển nhượng. Ngày 22-02-2021 anh T1 ký chuyển nhượng cho anh P diện tích 437m² thửa 270 tờ bản đồ số 7 với số tiền 700.000.000 đồng, đến ngày 16-12-2021 anh P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi nhận chuyển nhượng, anh T1 cam kết tại Văn phòng công chứng diện tích đất đủ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên làm hợp đồng chuyển nhượng, do đó không đo đạc lại. Đến khi anh P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông

4

mới đo đạc lại mới phát hiện đất bị thiếu 56,1m², nay căn cứ theo sơ đồ hiện trạng của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T xác định diện tích hiện trạng sử dụng bị thiếu so với giấy đất là 75,6m². Việc anh T1, chị C bán đất cho ông N thì ông và anh P hoàn toàn không biết. Vì khi ký hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C2 T1 xác định diện tích đất đủ theo Giấy đất vì vậy ông và anh P mới mua. Nay ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông N và của anh T1 chị C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Nguyễn Thị C trình bày:

Thửa đất 270, tờ bản đồ số 7 diện tích tích 437m² do anh T1 được cha mẹ tặng cho. Tháng 2-2021 vợ chồng chị thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Trần Nguyễn Hoàng P để vay số tiền 700.000.000 đồng, vợ chồng chị nhận tiền từ bà Võ Thị Anh T2, tại văn phòng công chứng có mặt bà T2, vợ chồng anh P và vợ chồng chị. Vợ chồng chị chỉ nghĩ là thế chấp giấy đất để vay tiền, khi ký tên không biết ký vào hợp đồng chuyển nhượng, lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng, chị trả tiền lãi trước 02 tháng với số tiền 70.000.000 đồng, sau đó tiếp tục trả lãi 02 tháng với số tiền 70.000.000 đồng, đến dịch C1 nên chị không trả lãi, đến tháng 10 cộng dồn lãi vào nợ gốc là 800.000.000 đồng, chị tiếp tục trả tiền lãi mỗi tháng 40.000.000 đồng, trả được 03 tháng với số tiền 120.000.000 đồng, và ngưng lãi nên xin chuộc đất với số tiền 800.000.000 đồng, phía ông Q, bà T2 không đồng ý mà đòi phải chuộc số tiền 1.000.000.000 đồng, sau đó anh P sang tên cho anh P đứng tên và lấy nhà đất sử dụng, khi này chị mới biết là không ký vào hợp đồng thế chấp mà ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi vay chị trả tiền lãi trực tiếp cho bà T2, chị trả tiền mặt, không lập biên nhận. Quá trình giải quyết chị yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chị đồng ý trả cho anh P số tiền 700.000.000 đồng. Tuy nhiên do không có khả năng trả tiền nên chị rút lại yêu cầu khởi kiện độc lập.

Phần đất diện tích ngang 2m x dài hết đất vợ chồng chị cho ông N thuê để ông N đi vào đất thời hạn thuê là 08 năm với số tiền 3.000.000 đồng. Do con bệnh nên vợ chồng chị mới bán cho bà H diện tích 1,5m x dài hết đất để bà H có đường đi vào đất, bán với số tiền 25.500.000 đồng, có làm giấy tay bán đất, và trả lại cho ông N 3.000.000 đồng, do giấy đất đang thế chấp Ngân hàng nên chưa tách thửa sang tên cho bà H được; sau đó bà H bán lại phần đất này cho ông N thì bà H có thông báo cho vợ chồng chị, khi này vợ chồng chị chưa sang tên giấy đất cho anh P. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N thì chị đồng ý.

Thửa đất 270, tờ bản đồ số 7 diện tích 437m² có nguồn gốc của cha mẹ anh Thượng tặng cho anh T1, vì đất có chiều ngang nhiều nên cha mẹ anh T1 bán cho nhiều người, phần cuối cùng còn lại thì tặng cho anh T1, vợ chồng chị hoàn toàn

5

không biết đất thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng chị cũng không tranh chấp với ông G – giáp ranh đất chị.

Nay chị xin rút lại yêu cầu khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22-02-2021 giữa anh T1 và anh Trần Nguyễn Hoàng P đối với diện tích 437m² thửa 270 tờ bản đồ số 7 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS02861 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 20-4-2016, đất tọa lạc ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Quá trình giải quyết anh Phạm Văn T1 trình bày: Nguồn gốc đất là của cha mẹ anh tặng cho hai vợ chồng, vợ chồng anh xây nhà ở từ năm 2009-2010; đến năm 2016-2017 mới tách thửa sang tên đất cho anh. Diện tích thực tế vợ chồng anh sử dụng chỉ có 10m ngang mặt tiền và 7,82m mặt hậu. Còn trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 13m ngang mặt tiền, 8,27m mặt hậu là không đúng. Khoảng năm 2016-2017 thì ông G xây hàng rào, đất cũng có nguồn gốc của cha mẹ ruột anh bán lại cho ông G. Ông G mua bao nhiêu thì xây hàng rào đúng ranh, không lấn qua đất của anh. Do cha mẹ anh bán đất từng phần cho nhiều người, khi bán đo đạc cụ thể từng phần, phần đất tặng cho anh là phần cuối cùng nên trên giấy đất ngang 13m nhưng thực tế anh sử dụng chỉ 10m ngang mặt tiền và 7,82m mặt hậu. Năm 2017 vợ chồng anh cho ông N thuê diện tích ngang 1,5m x dài hết đất để ông N làm đường đi, thời hạn thuê là 08 năm với số tiền 3.000.000 đồng, vợ chồng anh đã nhận tiền thuê. Đến năm 2018 do con bệnh không có tiền điều trị nên mới bán cho bà H với số tiền 25.500.000 đồng, có làm giấy tay bán đất vợ chồng anh ký tên. Vợ chồng anh phải trả lại cho ông N số tiền 3.000.000 đồng do chưa hết thời hạn cho thuê. Sau khi bán cho bà H thì ông N cũng vẫn đi trên đường đi này để đi vào đất ông N. Ông N đến gặp vợ chồng anh yêu cầu tách thửa sang tên nhưng giấy đất đang thế chấp Ngân hàng để vay tiền chưa lấy giấy đất về nên chưa tách được. Năm 2021 vợ chồng anh thế chấp giấy đất cho ông Q để vay số tiền 700.000.000 đồng, nhưng làm thủ tục chuyển nhượng, ông Q để con rể là anh P đứng tên bên nhận chuyển nhượng. Hằng tháng vợ chồng anh phải trả tiền lãi là 35.000.000 đồng, đến năm 2022 do không còn khả năng đóng tiền lãi nữa nên ông Q làm thủ tục sang tên đất luôn. Đến tháng 4-2022 ông Q mang giấy đất đứng tên anh P đến nhà và đuổi vợ chồng anh đi để lấy nhà đất. Thực tế vợ chồng anh cầm cố giấy đất cho ông Q chứ không phải chuyển nhượng đất vì vậy ông Q, anh P cũng không có đến xem đất hay đo đạc lại đất. Nay anh yêu cầu Tòa án xem xét buộc anh P tách thửa sang tên cho ông N, bà M vì diện tích này anh đã bán cho bà H, bà H bán lại cho ông N. Khi cho thuê, mua bán vợ chồng anh có ký tên đầy đủ.

6

Anh có đơn xin rút lại yêu cầu khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22-02-2021 giữa anh T1 và anh Trần Nguyễn Hoàng P đối với diện tích 437m² thửa 270 tờ bản đồ số 7 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS02861 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 20-4-2016, đất tọa lạc ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Võ Thị Anh T2 trình bày: Bà thừa nhận có cho vợ chồng chị C vay số tiền 700.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, vợ chồng chị C không có khả năng trả tiền lãi, nên có chốt lãi 03 tháng 105.000.000 đồng, bà giảm bớt cho chị C 5.000.000 đồng, còn 100.000.000 đồng cộng dồn vào nợ gốc thành 800.000.000 đồng, sau đó chị C có vay thêm nhưng bà không nhớ bao nhiêu. Chị C nhiều lần năn nỉ bà để chị C bán đất trả nợ cho bà nhưng nhiều lần chị C thất hứa, chị C có viết cam kết nếu không đúng hẹn thì đồng ý giao đất cho bà để cấn trừ nợ. Toàn bộ giấy tờ bà đã nộp cho Công an Huyện D. Chị C cho rằng có trả lãi là không đúng. Nay bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông N.

Bà Bành Thị H trình bày: Bà bán lại đường đi 1,5m x dài hết đất mà bà mua của chị C anh T1 cho ông N với số tiền 30.000.000 đồng, đồng thời bà có chuyển nhượng cho ông N phần đất của bà diện tích 08m ngang với số tiền 160.000.000 đồng. Bà đã tách thửa sang tên phần đất này cho ông N. Còn đối với phần đất bà mua của anh T1 để làm đường đi thì bà và ông N, ông T1 có gặp mặt nhau để thỏa thuận. Khi bà bán lại 1,5m cho ông N thì bà có nói lại với anh T1, anh T1 cũng không có ý kiến gì, bà có làm giấy tay bán cho ông N và ông N cũng trả tiền cho bà xong. Đến khi anh T1 chuyển nhượng cho anh P thì ông N làm hàng rào, ông Q – ba vợ anh P ngăn cản, vì vậy ông N, bà M khởi kiện. Nay bà yêu cầu anh P tách thửa sang tên quyền sử dụng đất diện tích 60,6m² cho ông N theo giấy tay bán đất lập ngày 24-02-2018 giữa anh T1 chị C và bà và giấy nhượng đất lập ngày 28-3-2018 giữa bà và ông N. Bà và ông N không có trách chấp gì trong vụ án này.

Người đại diện Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện Dương Minh Châu có văn bản trình bày: Ngày 25-12-2023 Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu có nhận Quyết định ủy thác xử lý tài sản số 02/QĐ-CCTHADS ngày 25-12-2023 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh để xử lý tài sản của anh Trần Nguyễn Hoàng P. Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu ban hành Quyết định xử lý tài sản ủy thác số 01/QĐ-CCTHADS ngày 04-01-2024 và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành. Tài sản xử lý gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 270 tờ bản

7

đồ 37, diện tích 437m², tọa lạc tại xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS11030 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16-12-2021 cho anh P đứng tên. Qua kiểm tra hồ sơ thi hành án và nội dung thụ lý vụ án của Tòa án, Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu yêu cầu trường hợp các bên có thanh toán tiền liên quan đến tài sản trên thì đề nghị thanh toán tại Chi cục Thi hành án để xử lý theo quy định.

Về chứng thư thẩm định giá: Các đương sự thống nhất giá trị quyền sử dụng đất theo chứng thư thẩm định giá, thống nhất sơ đồ hiện trạng đo đạc.

Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.832.000 đồng, ông N đã nộp tạm ứng.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi liên quan chấp hành đúng theo quy định của Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh N, bà Hà Thị Tuyết M, công nhận quyền sử dụng đất diện tích 60,6m² cho ông N, bà M. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22-02-2021 giữa anh T1 và anh Trần Nguyễn Hoàng P đối với diện tích 437m² thửa 270 tờ bản đồ số 7. Về án phí và chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ông N bà M yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 60,6m² thuộc một phần thửa 270 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại ấp N, xã B, Huyện D do anh Trần Nguyễn Hoàng P đứng tên quyền sử dụng đất. Do đó xác định quan hệ tranh chấp là quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

8

[1.2] Bà M, anh T1 đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt bà M, anh T1 theo quy định.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Khoảng năm 2017 vợ chồng chị C anh T1 có cho ông N thuê phần đất diện tích ngang 2m x dài hết đất để ông N đi vào đất thời hạn thuê là 08 năm với số tiền 3.000.000 đồng, có lập giấy thuê đất. Ngày 24-02-2018 vợ chồng anh T1 chuyển nhượng cho bà H diện tích 1,5m x dài hết đất để bà H có đường đi vào đất, với số tiền 25.500.000 đồng, có làm giấy tay bán đất, và trả lại cho ông N 3.000.000 đồng; sau đó bà H chuyển nhượng lại phần đất này cho ông N.

[2.2] Ông Q – đại diện theo ủy quyền của anh P cho rằng khi ký hợp đồng chuyển nhượng chị C anh T1 cam kết đất đủ diện tích do đó ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông N. Tuy nhiên ông thừa nhận khi các bên thỏa thuận chuyển nhượng cũng không tiến hành đo đạc lại và hiện trạng đất khi ông nhận đất có sẵn hàng rào kẽm B40 ở hướng đông, hiện trạng đất không thay đổi. Xét thấy, nguồn gốc phần đất nêu trên do anh T1 nhận tặng cho và từ khi sử dụng anh không tranh chấp với các hộ giáp cận, giữa anh và các hộ giáp cận đều có ranh giới rõ ràng. Chị C trình bày vào tháng 2-2021 vợ chồng chị thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Trần Nguyễn Hoàng P để vay số tiền 700 triệu đồng, vợ chồng chị nhận tiền từ bà Võ Thị Anh T2; hồ sơ đăng ký kê khai quyền sử dụng đất thể hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22-02-2021, cho đến ngày 16-12-2021 anh P mới được đứng tên quyền sử dụng đất. Bà T2 thừa nhận cho vợ chồng anh T1 vay số tiền 700 triệu đồng, do không có tiền trả nên mới sang tên đất để cấn trừ nợ, do đó lời trình bày của chị C là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ do Tòa án thu thập. Do đó, có căn cứ xác định anh P được đứng tên quyền sử dụng đất không phải do các bên có nhu cầu thực hiện việc chuyển nhượng mà do chị C anh T1 không có khả năng trả nợ vay cho bà T2 nên anh P mới thực hiện thủ tục sang tên đất để trừ nợ.

[2.3] Như vậy, thời điểm anh T1 chị C cho ông N thuê đất, sau đó chuyển nhượng cho bà H có lập giấy sang nhượng, sau đó bà H chuyển nhượng lại cho ông N đều trước khi anh T1 chuyển nhượng cho anh P; anh T1, chị C đã nhận đủ tiền chuyển nhượng, giao đất cho bà H, sau đó bà H giao lại cho ông N sử dụng mục đích để làm đường đi vào đất ông N, vì ngoài đường đi này ông N không còn lối đi nào khác để đi từ đường công cộng vào đất, mặc dù hợp đồng chuyển nhượng không được công chứng, chứng thực tuy nhiên các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ, chị C anh T1 nhận tiền, ông N nhận đất sử dụng do đó căn cứ Điều 129

9

của Bộ luật dân sự công nhận giấy tay sang nhượng có hiệu lực pháp luật, ông N, bà M được quyền sử dụng diện tích 60,6m², mặc dù diện tích tách thửa cho ông N, bà M không đảm bảo diện tích tối thiểu nhưng phần đất này được ông N, bà M sử dụng để làm đường đi vào đất và phần tiếp giáp cũng là loại đất hàng năm khác đất thuộc quyền sử dụng đất của ông N do đó có thể hợp thửa đất theo quy định.

Từ phân tích trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N, bà M là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị C, anh T1 rút lại yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22-02-2021 giữa anh T1 và anh Trần Nguyễn Hoàng P đối với diện tích 437m² thửa 270 tờ bản đồ số 7 do đó đình chỉ yêu cầu độc lập của anh T1, chị C.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng:

Chi phí đo đạc, định giá là 3.832.000 đồng. Anh P không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông N, bà M, và do yêu cầu của ông N bà M được Tòa án chấp nhận nên anh P phải chịu. Ông N bà M đã nộp tạm ứng, anh P có nghĩa vụ hoàn trả cho ông N, bà M số tiền 3.832.000 đồng.

[6] Về án phí:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ông N, bà M được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Do yêu cầu khởi kiện của ông N bà M được chấp nhận nên anh P phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.

Anh T1, chị C không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 116, 129, 221, 223 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 147, 157, 165, 217, 218, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 103

10

Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh N, bà Hà Thị Tuyết M đối với anh Trần Nguyễn Hoàng P về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. Ông Phan Thanh N, bà Hà Thị Tuyết M được quyền quản lý sử dụng diện tích 60,6m² thuộc một phần thửa 270 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận như sau:

    • - Hướng Bắc giáp đường ĐH11 dài 1,5m;
    • - Hướng Nam giáp đất ông N1 bà M thửa 283 dài 1,5m;
    • - Hướng Đông giáp hàng rào B40 của ông Nguyễn Văn G1;
    • - Hướng Tây giáp phần thửa 270 còn lại của anh Trần Nguyễn Hoàng P.

    (Kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất)

    Ông N, bà M được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định của Bản án.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của anh Phạm Văn T1, chị Nguyễn Thị C về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22-02-2021 giữa anh T1 và anh Trần Nguyễn Hoàng P đối với diện tích 437m² thửa 270 tờ bản đồ số 7.
  4. Chi phí tố tụng:
  5. Anh Trần Nguyễn Hoàng P có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Phan Thanh N, bà Hà Thị Tuyết M số tiền 3.832.000 (ba triệu tám trăm ba mươi hai ngàn) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  7. Anh P phải chịu 300.000 đồng.

    Ông N, bà M được miễn nộp tiền án phí.

    Hoàn trả cho anh T1, chị C 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013430 ngày 16-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu.

  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án

11

dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hánh án dân sự.

  1. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại trụ sở Tòa án, trụ sở Ủy ban nhân dân xã (phường), nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND Huyện DMC;
  • - THA Huyện DMC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tập án, hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/DS-ST ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 53/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh N, bà Hà Thị Tuyết M đối với anh Trần Nguyễn Hoàng P về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Ông Phan Thanh N, bà Hà Thị Tuyết M được quyền quản lý sử dụng diện tích 60,6m2 thuộc một phần thửa 270 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận như sau: - Hướng Bắc giáp đường ĐH11 dài 1,5m; - Hướng Nam giáp đất ông N1 bà M thửa 283 dài 1,5m; - Hướng Đông giáp hàng rào B40 của ông Nguyễn Văn G1; - Hướng Tây giáp phần thửa 270 còn lại của anh Trần Nguyễn Hoàng P. (Kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất) Ông N, bà M được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định của Bản án. 2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của anh Phạm Văn T1, chị Nguyễn Thị C về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22-02-2021 giữa anh T1 và anh Trần Nguyễn Hoàng P đối với diện tích 437m2 thửa 270 tờ bản đồ số 7.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger