TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/7/2024
“V/v Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Sô Tha.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phước Thị Kim Huê
- Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang
- - Thư ký phiên tòa: Bà Tiết Thị Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 171/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 64/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phan Phi S, sinh ngày 01/01/1967, có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- - Bị đơn: Bà Mai Kiều A, sinh ngày 01/01/1970, có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/6/2024 và bản tự khai của nguyên đơn ông Phan Phi S trình bày: Nguyên vào năm 1992 sau một thời gian quen biết, ông đã xác lập quan hệ vợ chồng với bà Mai Kiều A và được sự đồng ý của gia đình hai bên nên có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi đám cưới vợ chồng về sống tại ấp P, xã A, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh được một thời gian thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cự cải với nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và công việc làm ăn nên vợ chồng không còn chung sống với nhau hơn 10 năm nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà A.
Về con chung: Có 02 người con tên Phan Thị Kiều N, sinh ngày 24/6/1993 và Phan Văn Kh, sinh ngày 06/02/1995, hiện nay đã thành niên và có gia đình riêng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết,
Tại bản tự khai ngày 01/7/2024 bị đơn bà Mai Kiều A trình bày: Bà và ông Phan Phi S do quen biết nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới vợ chồng về sống bên gia đình chồng ở ấp Ng, xã A, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng vài năm thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống do ông S thường xuyên đi làm xa, không quan tâm chăm sóc vợ con nên vợ chồng đã ly thân trên 10 năm nay. Từ lúc ly thân giữa bà và ông S không ai tạo điều kiện hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn và thời gian vợ chồng ly thân đã hơn 10 năm nên bà cũng đồng ý ly hôn với ông S.
Về con chung: Có 02 người con tên Phan Thị Kiều N, sinh ngày 24/6/1993 và Phan Văn Kh, sinh ngày 06/02/1995, hiện nay đã thành niên và có gia đình riêng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Phan Phi S và bị đơn bà Mai Kiều A đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông S và bà A theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Phi S và bà Mai Kiều A chung sống với nhau năm 1992 trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra tranh cải, nặng nhẹ với nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và công việc làm ăn nên vợ chồng ông, bà đã sống ly thân với nhau 10 năm nay, việc này cả ông S và bà A đều thừa nhận nên ông S và bà A cùng yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ”. Đối chiếu với trường hợp của ông S và bà A sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1992 cho đến nay mà không có đăng ký kết hôn, nay có yêu cầu ly hôn Tòa án không công nhận bà bà ông S và bà A là vợ chồng.
[3] Về con chung: Tên Phan Thị Kiều N, sinh ngày 24/6/1993 và Phan Văn Kh, sinh ngày 06/02/1995 đã thành niên ông, bà không có yêu cầu gì về con chung nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phan Phi S và bị đơn bà Mai Kiều A xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không xem xét.
[5] Về án phí: Ông Phan Phi S là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận ông Phan Phi S và bà Mai Kiều A là vợ chồng.
- Về con chung: Đã thành niên nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu nên không xem xét
- Về án phí: Ông Phan Phi S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông Phan Phi S đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003593 ngày 17/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nên ông S không phải nộp tiếp.
- Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo luật định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Sơn Thị Sô Tha |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận ông Phan Phi S và bà Mai Kiều A là vợ chồng.
