|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11/6/2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Vững.
Bà Hồ Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 11/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 202/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 137/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1983.
- Địa chỉ: Số I, ấp H, xã V, huyện L, Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1981.
- Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị T, anh C có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn năm 2005, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc. Trong quá trình chung sống đã sinh được 02 con gái.
Thời gian gần đây không còn hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân thường phát sinh mâu thuẫn, hai bên không hợp nhau cả về tư tưởng và cách sống, cuộc sống hôn nhân nhiều lần rơi vào tình trạng trầm trọng. Vì lẻ đó, tình cảm vợ chồng ngày một rạn nứt không thể cứu vãn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và vợ chồng đã ly thân khoảng 3 năm nay. Hiện không còn tình cảm với anh C nên chị yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm: 16/5/2006; Nguyễn Thị Kiều T1, sinh ngày 15/11/2008. Hiện 02 con chung đang sống với chị. Chị yêu cầu tiếp tục nuôi, không yêu cầu anh C cấp dưỡng.
+ Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:
Anh và chị T kết hôn năm 2005, có đăng ký kết hôn, vợ chồng sống chung có hạnh phúc, sau này có xảy ra tai nạn nên vợ chồng về bên Lai V sinh sống, anh đi làm xa nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nay chị T xin ly hôn anh còn thương vợ, con nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm: 16/5/2006; Nguyễn Thị Kiều T1, sinh ngày 15/11/2008. Hiện 02 con đã lớn sống với ai do quyết định của các con.
+ Về chia tài sản chung: Không có.
+ Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị T, quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C tự tìm hiểu quen biết nhau, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức đám cưới vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 18/01/2005. Sau khi đám cưới vợ chồng sống chung có hạnh phúc được gần 15 năm thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hiện nay vợ chồng đã ly thân và không còn tình cảm nên chị T yêu cầu được ly hôn, anh C không đồng ý ly hôn.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh C trong quá trình giải quyết vụ án anh C không đồng ý ly hôn, vì anh cho rằng anh còn thương vợ thương con. Nhưng xét thấy anh không có giải pháp nào khả quan để hàn gắn tình cảm vợ chồng vì từ ngày ly thân cho đến nay chị T đã về bên nhà mẹ ruột ở, không chịu đoàn tụ.
[4] Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh C đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không còn tồn tại, không tìm được giải pháp khắc phục để hòa giải hàn gắn tình cảm và đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
[5] Về quan hệ nuôi con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm: 16/5/2006; Nguyễn Thị Kiều T1, sinh ngày 15/11/2008. Hiện nay con chung đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, 02 con chung tên Mộng K và Kiều T1 hiện đang sống với chị T. Đồng thời, Mộng K và Kiều T1 đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng ở với chị T. Nên tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm: 16/5/2006; Nguyễn Thị Kiều T1, sinh ngày 15/11/2008 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh C thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[7] Về nợ chung: Chị T, anh C thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[8] Về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Chị T và anh C thống nhất có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm: 16/5/2006; Nguyễn Thị Kiều T1, sinh ngày 15/11/2008, (hiện con chung đang do chị T nuôi dưỡng), chị T được tiếp tục nuôi Mộng K và K. Chị T không yêu cầu anh C có nghĩa vụ đóng góp (cấp dưỡng) nuôi con chung tên Mộng K, Kiều T1 cùng chị T.
Chị Đỗ Thị T và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Văn C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị T phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0005645 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười .
- Quyền kháng cáo: Các đương được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Mai |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án TC
