Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09 - 9 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thu Trang

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân

2. Bà Vũ Thị Hòa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 133/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Hà Huyền T - Sinh năm 1995

Địa chỉ: Số nhà B, phố K, tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T1 - Sinh năm 1997

Địa chỉ: Số nhà B, phố K, tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Vũ Hà Huyền T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Hà Huyền TNguyễn Đức T1 kết hôn với nhau vào ngày 26/02/2021, anh chị có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra việc tranh cãi, không tôn trọng nhau, cuộc sống luôn trong tình trạng căng thẳng, không có hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng vẫn không hàn gắn được, anh chị đã sống ly thân nhau từ cuối tháng 5/2024 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Đến nay chị Vũ Hà Huyền T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức T1 để chị sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Thời gian chung sống chị Vũ Hà Huyên T2 và anh Nguyễn Đức T1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc H - Sinh ngày 19/7/2021, do hiện nay chị Vũ Hà Huyền T đã ra ngoài ở trọ, điều kiện sống không ổn định nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho anh Nguyễn Đức T1 được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Phúc H cho đến khi cháu Nguyễn Phúc H đủ 18 tuổi. Chị Vũ Hà Huyền T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị Vũ Hà Huyền T đang làm công việc lao động tự do, thu nhập của chị bình quân khoảng 5.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản: Chị Vũ Hà Huyền T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt anh Nguyễn Đức T1 trình bày:

Anh Nguyễn Đức T1 và chị Vũ Hà Huyền T đăng ký kết hôn ngày 26/02/2021 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai, trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra việc tranh cãi, không tôn trọng nhau khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được gia đình khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được. Anh Nguyễn Đức T1 và chị Vũ Hà Huyền T đã sống ly thân nhau từ cuối tháng 5/2024 đến nay, chị Vũ Hà Huyền T đã bỏ đi khỏi nhà, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Nay chị Vũ Hà Huyền T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức T1 thì quan điểm của anh Nguyễn Đức T1 là đồng ý ly hôn với chị Vũ Hà Huyền T.

Về con chung: Thời gian chung sống anh Nguyễn Đức T1 và chị Vũ Hà Huyên T2 có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc H - Sinh ngày 19/7/2021, khi ly hôn anh Nguyễn Đức T1 đề nghị Toà án giải quyết cho anh được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Phúc H cho đến khi cháu Nguyễn Phúc H đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Đức T1 không yêu cầu Vũ Hà Huyền T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay anh Nguyễn Đức T1 đang làm công việc lao động tự do, thu nhập bình quân khoảng 7.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản: Anh Nguyễn Đức T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Hà Huyền T được ly hôn với anh Nguyễn Đức T1.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phúc H - Sinh ngày 19/7/2021 cho anh Nguyễn Đức T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Phúc H đủ 18 tuổi. Chị Vũ Hà Huyền T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Vũ Hà Huyền T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức T1 và giải quyết việc nuôi con chung giữa anh chị, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Nguyễn Đức T1 có nơi cư trú tại số nhà B, phố K, tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án đúng quy định nhưng anh Nguyễn Đức T1 không đến Toà án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Hà Huyền T và bị đơn anh Nguyễn Đức T1 có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án xét xử văng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Vũ Hà Huyền T và anh Nguyễn Đức T1 đăng ký kết hôn ngày 26/02/2021 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện do đó hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Anh chị đều xác nhận, sau khi kết hôn anh chị chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh chị không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra việc tranh cãi, khiến cho cuộc sống gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng, không có hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân nhau từ cuối tháng 5/2024 đến nay, vợ chồng anh chị không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Đến nay chị Vũ Hà Huyền T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức T1, anh Nguyễn Đức T1 cũng đồng ý ly hôn với chị Vũ Hà Huyền T.

Tại biên bản xác minh ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã xác định trong thời gian chung sống giữa chị Vũ Hà Huyền T và anh Nguyễn Đức T1 có xảy ra mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa anh chị đã được tổ dân phố can thiệp, hòa giải nhưng không thành, chị T đã dọn ra ngoài ở trọ, anh chị đã sống ly thân nhau. Nội dung xác minh của Tòa án phù hợp với lời khai của chị Vũ Hà Huyền T, anh Nguyễn Đức T1 và tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập được. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Vũ Hà Huyền T và anh Nguyễn Đức T1 đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Hà Huyền T đối với anh Nguyễn Đức T1.

[2.2] Về con chung: Thời gian chung sống chị Vũ Hà Huyền T và anh Nguyễn Đức T1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc H - Sinh ngày 19/7/2021. Khi ly hôn chị Vũ Hà Huyền T đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Nguyễn Phúc H cho anh Nguyễn Đức T1 nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Phúc H đến khi cháu Nguyễn Phúc H đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Đức T1 cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Phúc H đến khi cháu Nguyễn Phúc H đủ 18 tuổi.

Xét việc giao nuôi con thấy rằng, quá trình giải quyết vụ án, chị Vũ Hà Huyền T và anh Nguyễn Đức T1 đều xác nhận anh chị làm công việc lao động tự do, thu nhập của chị Vũ Hà Huyền T bình quân khoảng 5.000.000 đồng/tháng, thu nhập của anh Nguyễn Đức T1 bình quân khoảng 7.000.000 đồng/tháng. Tại biên bản xác minh ngày 26/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai xác minh về điều kiện sống, mức thu nhập của chị T và anh T1 đã xác định anh chị đều làm công việc lao động tự do, có thu nhập và có nơi ở ổn định. Vì vậy, xét nguyện vọng của chị T, anh T1 và điều kiện sống của anh chị thì Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Phúc H cho anh Nguyễn Đức T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Phúc H đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Đức T1 không yêu cầu chị Vũ Hà Huyền T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Chị Vũ Hà Huyền T và anh Nguyễn Đức T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Vũ Hà Huyền T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Hà Huyền T và anh Nguyễn Đức T1. Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Hà Huyền T và anh Nguyễn Đức T1 chấm dứt kê từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phúc H - Sinh ngày 19/7/2021 cho anh Nguyễn Đức T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Phúc H đủ 18 tuổi. Chị Vũ Hà Huyền T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Vũ Hà Huyền T có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Hà Huyền T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Vũ Hà Huyền T đã nộp đủ tiền án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000608 ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.

Chị Vũ Hà Huyền T và anh Nguyễn Đức T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND TP;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP;
  • - UBND phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger