Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST
Ngày: 09-8-2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thông.
  2. Ông Đinh Xuân Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quốc Chương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh T, sinh năm 2005, tại tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn M và bà Hồ Kim B; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; đang tại ngoại - có mặt.

2. Nguyễn Minh H, sinh năm 2004, tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT: Bon Srê Ú, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Thợ cốt pha; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Minh H1 và bà Nguyễn Thị Xí H2; có vợ là Trần Thị P và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; đang tại ngoại - có mặt.

- Bị hại: Chị Vũ Thị T1.

Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Đức T2.

Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thùy T3, sinh ngày 28/7/2006 - vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thùy T3: Anh Nguyễn Duy T4 (là bố đẻ của chị Nguyễn Thị Thùy T3) - vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 14-12-2023, Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu loại Exciter, màu trắng, biển kiểm soát: 48B1-654.14 chở Nguyễn Thị Thùy T3, sinh ngày 28/7/2006, trú tại thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cùng Nguyễn Minh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu loại Winner, màu đỏ đen, chưa rõ biển kiểm soát đi từ phòng trọ của T tại tổ dân phố C, phường N, thành phố G đến phòng trọ của H tại tổ dân phố F, phường N, thành phố G (gần trường Cao đẳng C) để nấu ăn tối.

Khi đi ngang qua cửa hàng vật liệu xây dựng Nguyên Anh P thuộc tổ dân phố E, phường N do chị Vũ Thị T1, sinh năm 1981 làm chủ thì T nhìn thấy trước nhà chị T1 có 01 con chó cảnh Alaska đang nhốt trong chuồng, T điều khiển xe đi về phía H đồng thời nói “con chó Alaska kìa phải không?” (do trước đây H đã kể cho T, T3 nghe về con chó này), thì H nói “ừ”, rồi cả ba cùng đi về phòng trọ của H. Khi đến phòng trọ, T nói H “mày đốt than để nướng gà đi, tao với T3 đi lên xem thử”, nói xong T điều khiển xe mô tô 48B1-654.14 chở T3 quay lại nhà chị T1. Đến nơi, cả hai đi đến vị trí chiếc lồng và chơi đùa với con chó. Lúc này, T3 thấy khóa cửa chuồng chó bị hư, chỉ có chốt ngang để con chó không thể chạy ra ngoài nên T3 nói “ê nhìn nè, sao khóa như không khóa vậy” . Nghe vậy, T nhìn vào khóa của cửa chuồng chó thấy khóa cửa chuồng chó là chốt ngang, ổ khóa là dạng khóa bấm, nhưng không bấm chốt khóa, đồng thời T thấy trên mái của chuồng chó có 01 sợi dây xích bằng kim loại. Sau đó, cả hai đứng chơi với con chó khoảng 10 phút rồi về lại phòng trọ của H. Về đến nơi, T nói với H “tao với T3 lên ngồi chơi với con chó cả buổi, con chó này ngu lắm, hồi trước tao có nuôi một con như vậy rồi, tối tao với mày lên bắt trộm về”, thì H nói “cửa chuồng khóa, chỗ đó có camera mà”, T nói “khóa hư rồi, chỉ cần kéo chốt ra thôi, với có sợi dây xích trên nóc chuồng, có camera mà bị cái chuồng chó che khuất rồi”. Nghe T nói vậy thì H đồng ý. Đến khoảng 21h30' cùng ngày thì T, T3 đi về.

Khoảng 00 giờ 30 ngày 15/12/2023, H nhắn tin cho T hỏi “Sao? Có vô không?”, thì T nhắn lại “giờ tao vô”, rồi T điều khiển xe mô tô 48B1-654.14 chở T3 đi đến phòng trọ của H. Đến đây, T3 đi lên gác nằm sử dụng điện thoại, còn T, H tháo ốp nhựa trên thân xe mô tô 48B1-654.14, dán giấy che biển số xe lại với mục đích để không bị người khác phát hiện. Đến khoảng 01h30', T điều khiển xe mô tô 48B1-654.14 chở H đi đến cửa hàng V để trộm cắp chó. Đến nơi, T dừng xe cách vị trí chuồng nhốt con chó khoảng 10m, còn H đi đến vị trí chuồng đang nhốt con chó lấy sợi dây xích để trên chuồng, dùng tay mở chốt cửa chuồng ra, khi cửa chuồng mở ra thì con chó chạy ra chạy nhảy xung quanh người H nên H không xích con chó lại được. H liền chạy bộ về vị trí T đang đứng đợi thì con chó chạy theo sát sau người H, lúc này T lấy sợ dây xích từ H xích được cổ của con chó, rồi đưa dây xích cho H dắt con chó đi theo đường H về hướng tỉnh đội. Khi đi đến đối diện cửa hàng T5 thuộc TDP5, P. N, TP ., T, H bỏ con chó lên yên xe để chở nhưng con chó to, không thể chở được nên T nói H đứng đợi, để T đi đổi xe. T điều khiển xe đi về phòng trọ của Nguyễn Đức T2 sinh năm 2002, chỗ ở: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, cách phòng trọ của T khoảng 10m) hỏi mượn xe của T2 đi có việc thì T2 đồng ý cho T mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu loại Vison, màu đỏ, biển kiểm soát 48B1-557-.07. Sau đó, T điều khiển xe đi đến chở H cùng con chó về phòng trọ của T. Khi đưa con chó về phòng trọ của T, H xích con chó ở cửa sổ phòng trọ, rồi T, H đi trả xe cho T2 rồi lấy xe của T về. Sau khi phát hiện con chó bị kẻ gian bắt trộm, ngày 21/12/2023 chị T1 đã làm đơn trình báo vụ việc đến Cơ quan Công an. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G đã tiến hành triệu tập Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh H để làm việc. Tại cơ quan điều tra, T, H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.

Tại văn bản số 29/PTNN-QLDBĐV của Chi cục phát triển nông nghiệp thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đ kết luận: Con chó trên là giống chó Alaska Standard (lai), không xác định được tỷ lệ máu lai; đây là giống Alaska phổ biến, được nuôi nhiều ở Việt Nam.

Tại Kết luận định giá số 05/KL-HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố G kết luận: Con chó, giống Alaska Standard (lai), được nuôi phổ biến ở Việt Nam, giống cái, nặng 41kg, màu lông Nâu, chiều cao 0,61m, chiều dài 1,28m tại thời điểm ngày 15/12/2023 có giá trị là 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKS-GN ngày 04-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh H về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh H mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả lại 01 con chó, 01 giấy theo dõi sức khỏe chó và 01 giấy chứng nhận tiêm phòng dại là tài sản hợp pháp chị Vũ Thị T1.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Đối với Nguyễn Thị Thùy T3: Quá trình T, H bàn bạc, đi bắt trộm chó T3 chỉ nghe, biết chứ không tham gia và không giúp sức gì cho T, H trong vụ việc này. Mặt khác, T, H phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó hành vi không tố giác tội phạm của T3 không cấu thành tội Không tố giác tội phạm quy định tại điều 390 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Đức T2, có hành vi cho Nguyễn Thanh T mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda, kiểu loại Vison, màu đỏ, biển kiểm soát 48B1-557-07, tuy nhiên T2 không biết T sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, do đó không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo không bào chữa gì, chỉ xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố G, tỉnh Đắk Nông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, Nguyễn Thanh T và Nguyễn Minh H đã lén lút trộm cắp 01 con chó cảnh Alaska Standard (lai), giống cái, nặng 41kg có giá trị 8.000.000đ (Tám triệu đồng) của chị Vũ Thị T1 tại tổ dân phố E, phường N, thành phố G, Đắk Nông. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là phạm tội nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Bộ luật hình sự quy định

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi tội phạm xảy ra nói riêng và xã hội nói chung. Do đó, cần xem xét xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội. Các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, Nguyễn Thanh T là người rủ Nguyễn Minh H đi trộm cắp tài sản nhưng H cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần áp dụng mức hình phạt bằng nhau đối với hai bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; nên các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại con chó bị lấy trộm, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân tốt và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên có đủ các điều kiện được cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn áp dụng Điều 65 tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho các bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú và gia đình, cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt và nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con chó, 01 giấy theo dõi sức khỏe chó và 01 giấy chứng nhận tiêm phòng dại là tài sản hợp pháp chị Vũ Thị T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả lại cho chị T1 là chủ sở hữu hợp pháp, cần chấp nhận.

[9] Đối với Nguyễn Thị Thùy T3: Quá trình T, H bàn bạc, đi bắt trộm chó T3 chỉ nghe, biết chứ không tham gia và không giúp sức gì cho T, H trong vụ việc này. Do vậy, T3 không đồng phạm với T, H về tội Trộm cắp tài sản. Mặt khác, T, H phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó hành vi không tố giác tội phạm của T3 không cấu thành tội Không tố giác tội phạm, quy định tại điều 390 của Bộ luật Hình sự.

[10] Đối với Nguyễn Đức T2 có hành vi cho Nguyễn Thanh T mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda, kiểu loại Vison, màu đỏ, biển kiểm soát 48B1-557-07, tuy nhiên T2 không biết T sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, do đó không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông là có căn cứ cần chấp nhận.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Thanh T trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Minh H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Minh H trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát và giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả lại cho chị T1 là chủ sở hữu hợp pháp 01 con chó, 01 giấy theo dõi sức khỏe chó và 01 giấy chứng nhận tiêm phòng dại.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Minh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND TP. Gia Nghĩa;
  • - Phòng PV 06 và PC 10 CA tỉnh Đắk Nông;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Gia Nghĩa;
  • - Chi cục THADS TP. Gia Nghĩa;
  • - UBND phường Nghĩa Đức;
  • - UBND xã Đắk Nia;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 53/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger