|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 09-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Phạm Văn Tiến;
- - Ông Nguyễn Hưu Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện - Kiểm sát viên.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị T - Kế toán Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ Công an huyện T, thành phố Hải Phòng) xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Trung N, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1996 tại T; nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị N1, sinh năm 1976; có vợ là Châu Thị Thu T2, sinh năm 1997 và hai con, lớn sinh năm 2016 và nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30 tháng 01 năm 2024 đến ngày 02 tháng 02 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Phạm Tiến D và anh Phạm Văn N2; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 13 giờ ngày 29-01-2024, Phạm Trung N đi xe ôm từ nhà đến khu vực đường A thuộc huyện T với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, N gặp một người đàn ông tên N3 (N không rõ tuổi, địa chỉ), cao khoảng 1m60, dáng người đậm, da ngăm đen. N hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy loại Methamphetanie thì được người đàn ông này đồng ý bán cho một túi nilon bên trong chứa ma túy. Ngoài ra người đàn ông tên N3 còn đưa cho N 01 gói nilon bảo mang về cho Phạm Văn N2 (là bạn N), N đồng ý. N giấu túi nilon trên vào túi quần rồi ra bắt xe ôm về nhà N, N đưa cho N2 gói nilon mà người dàn ông tên N3 gửi rồi đi về nhà. Khoảng 03 giờ ngày 30-01-2024, N lấy một gói ra để sử dụng, sau khi dùng xong, N để số ma túy còn lại tại túi quần phía trước bên trái. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày thì N bị Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của N 01 túi nilon kích thước 11,3 x 10cm, bên trong có 08 túi nilon trắng, viền mép dán màu xanh lá có kích thước lần lượt là 2.6cm x 1.6cm, 2.6cm x 1.8cm, 2.6cm x 1.4cm, 2.6cm x 1.6cm, 2.6cm x 1.4cm, 2.6cm x 1.7cm, 2.6cm x 1.6cm, 2.6cm x 1.5cm, 2.6cm x 1.5cm bên trong chứa ma túy đá và 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy TabA màu đen, đã qua sử dụng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Trung N, Phạm Văn N2 nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Bản kết luận giám định số 149/KL-KTHS ngày 01-02-2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,85 gam, loại Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 985/KL-KTHS ngày 09-4-2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Trích xuất thông tin 903 danh bạ; 215 cuộc gọi; 73 của trò chuyện Facebook Messenger; 09 cuộc trò chuyện Messages; 10 cuộc trò chuyện Zalo trên máy tính Bảng nhãn hiệu SAMSUNG có số IMEI: 352522082300945.
Kết quả xét nghiệm của Cơ sở điều trị Methadone Tiên L, kết luận: Phạm Trung N dương tính với ma túy, loại Mathamphetamine.
Quá trình điều tra Phạm Văn N2 khai nhận: Ngày 29-01-2024, có mua của người đàn ông tên N3 số ma túy trị giá 5.000.000 đồng, N2 nhờ N mang về hộ; số ma túy trên, N2 đã sử dụng hết.
Vật chứng của vụ án: Đối 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 1,53 gam ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật) và 01 máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Bản cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 18-7-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã truy tố Phạm Trung N về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và trình bày: Bị cáo nghiện ma tuý từ năm 2016, số ma túy Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là của bị cáo mua để sử dụng một mình, ngoài ra không có mục đích nào khác; số tiền dùng để mua ma tuý là do bị cáo lao động mà có. Gói nilon người đàn ông tên N3 nhờ mang về cho N2, bị cáo đã đưa cho N2 vào chiều ngày 29-01-2024, bị cáo không nhớ đặc điểm, hình dạng. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng như hành vi bị cáo đã thực hiện; khối lượng, loại ma túy đúng như Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H; vật chứng của vụ án bị Công an huyện T thu giữ đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo thừa nhận đã dùng máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG gọi Z cho N3 để giao dịch mua ma tuý về sử dụng; bị cáo từ chối nhận lại, đề nghị Hội đồng xét xử sung công quỹ Nhà nước.
Người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa.
Kiểm sát viên khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trung N mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30-01-2024.
- Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy có dấu niêm phong số 149MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H, trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- [1] Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
- [2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [3] Về những người tham gia tố tụng: Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tuy nhiên, người làm chứng vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
- Về tội danh và hình phạt:
- [4] Lời khai của bị cáo Phạm Trung N tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng; biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 30-01-2024, tại nhà của bị cáo, thôn X, xã B, huyện T; Công an huyện T, thành phố Hải Phòng bắt quả tang Phạm Trung N có hành vi cất giấu trái phép tại túi quần phía trước bên trái chất ma tuý có khối lượng theo Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H là 1,85 gam Methamphetamine.
- Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích sử dụng.
- Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- [5] Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
- [6] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra;
cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
- [7] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ông nội là thương binh, người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [8] Xét các căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử cho rằng cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo ở mức cao nhất theo mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo là thỏa đáng.
- [9] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, tài liệu xác minh thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, là người nghiện ma tuý, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [10] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng: Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo; tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận việc sử dụng máy tính bảng gọi Z cho N3 để giao dịch mua ma tuý; bị cáo từ chối nhận lại, đề nghị sung công. Xét thấy, máy tính bảng là công cụ phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- Đối với 01 bì thư còn nguyên niêm phong số 149/MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định: Là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [11] Về vấn đề khác: Trong vụ án này, người đàn ông tên N3 bán ma túy cho N và Phạm Văn N2 hiện chưa xác định được căn cước, lai lịch; cũng như không thu được ma túy của N2, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thụ lý tin báo, quyết định tách hành vi của N2 để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
- [12] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- [13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trung N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Trung N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30 tháng 01 năm 2024.
- Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với Phạm Trung N.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư còn nguyên niêm phong số 149MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 1,53 gam tinh thể cùng toàn bộ bao gói của mẫu vật).
- (Vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc Phạm Trung N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Phạm Trung N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
