TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN Bản án số: 53/2024/DS-ST Ngày: 09-05-2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Giúp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Vững
- Bà Phạm Thị Tuyết Nhung
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh Nhật - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2021/TLST-DS ngày 08 tháng 03 năm 2021 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1981; Cư trú: ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông P: Ông Trần Thành N, sinh năm 1989; Cư trú: khu phố P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. (Văn bản ủy quyền ngày 17/12/2020) có mặt
2. Bị đơn: Ông Trần Trọng H, sinh năm 1975; Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Bà Trần Thị Tú Q, sinh năm 1996; Cư trú: E K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 12/4/2024) có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Phương Quốc D – Đoàn luật sư tỉnh L. có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1944; Địa chỉ: D T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. vắng mặt
- Bà Trần Thị Tú Q, sinh năm 1996; có mặt
- Bà Trần Lê Phương Q1, sinh năm 2007; có mặt
Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10-12-2020 và đơn khởi kiện bổ sung của ông P cùng lời khai tại Tòa án của người đại diện theo ủy quyền nội dung vụ án như sau: Vào tháng 7/2020 ông P có nhận chuyển nhượng thửa đất 409, tờ bản đồ số 01, diện tích 200m² loại đất ONT của ông Vũ Văn K theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/06/2020 và được Chi Nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C cập nhật biến động trên GCNQSDĐ của ông K ngày 13/7/2020 theo hồ sơ số 036023.CN.005. Thửa đất 409 này ông K nhận chuyển nhượng lại từ các chủ trước, khi tách thửa có đo đạc, có kích thước nên khi chuyển nhượng lại cho ông P thì không đo đạc lại mà theo trích lục bản đồ. Thời điểm ông P nhận đất thì ông K không có giao ranh, mà chỉ phần đất trống. Liền kề thửa đất 409 là thửa 410 của ông Trần Trọng H có căn nhà cấp 4 của ông H đã xây dựng từ trước. Phần đất của ông P là đất trống không có công trình hay cây cối gì trên đất. Sau đó ông P sử dụng phần đất trống thì ông H ngăn cản không cho và xác định phần đất trống là của ông H.
Vì vậy ông P yêu cầu ông H phải trả lại cho ông P diện tích 115,3m² thuộc một phần thửa 409, tờ bản đồ số 01, loại đất ONT tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C vị trí đất là khu H là theo mảnh trích đo bản đồ địa chính số 178-2023 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C duyệt ngày 20/9/2023. Còn khu C, B thuộc thửa 464 của ông Trần Văn T nên ông không tranh chấp trong vụ án này.
Bị đơn ông Trần Trọng H trình bày tại biên bản làm việc ngày 22/03/2021 như sau: Nguồn gốc thửa 410 ông được cha ruột là ông Trần Văn T1 tặng cho vào năm 2006, đất có chiều ngang 5,5m, chiều dài 36,7m. Trên đất ông xây dựng căn nhà cấp 4 ngang 4m, dài 12,5m vào năm 2013 trên nền nhà lá cũ. Khi làm thủ tục tặng cho có đo đạc thực tế.
Giữa thửa đất 409 và 410 không có ranh giới rõ ràng. Do thửa đất 409 (được tách từ thửa 162) cha ông bán sang tay 80m² cho người khác từ nhiều năm trước. Khi ông Nguyễn Hồng P nhận chuyển nhượng thì ông không biết, không có tiến hành đo đạc thực tế, cũng không có ai liên hệ ông yêu cầu xác nhận ranh giới đất. Đến cuối năm 2020, ông P đến chặt dừa và nói gia đình ông lấn đất. Ông không đồng ý với yêu cầu của ông P.
Ý kiến của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn trình bày: Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn thỏa thuận được toàn bộ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, đưa ra xét xử, Thẩm phám, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau toàn bộ vụ án, người đại diện của ông H đồng ý trả lại cho ông P diện tích đất 115,3m² thuộc thửa 409 tờ bản đồ số 01, loại đất ONT tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C có vị trí theo mảnh trích đo bản đồ địa chính số 178-2023 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C duyệt ngày 20/9/2023. Việc thỏa thuận là tự nguyện không trái quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng P khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn ông Trần Trọng H, bị đơn cư trú tại xã P, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An theo khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Thửa đất 409, tờ bản đồ số 01, diện tích 200m² loại đất ONT ông P nhận chuyển nhượng của ông Vũ Văn K vào tháng 7/2020, liền kề phía đông thửa đất 409 là thửa đất 410 của ông Trần Trọng H, liền kề phía tây là thửa đất 464 của ông Trần Văn T. Trên thực tế theo biên bản thẩm định tại chỗ của Tòa án thì các thửa đất không cắm cột xác định ranh. Phần đất mà ông P và ông H tranh chấp là đất nền gò trống không có cây cối hay vật kiến trúc, ông P và ông H đều cho rằng mình là chủ sử dụng.
Theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ thửa 409, tờ bản đồ số 01, đất tại xã P, huyện C cho ông Nguyễn Hồng P thì thửa đất 409 có diện tích là 200m² theo trích lục bản đồ có chiều ngang trên 5,5m, ngang dưới 5,4m, dài 36,7m.
Hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông H thửa 410, tờ bản đồ số 01, đất tại xã P, huyện C thì vào ngày 03/6/2006 ông Trần Văn T1 cha ông H tặng cho ông H 202m² loại đất ONT tách từ thửa 162, khi tách thửa có đo đạc thực tế thửa đất chiều ngang 5,5m, chiều dài 36,7m có biên bản xác nhận ranh giới, móc giới thửa đất.
Đối chiếu mảnh trích đo bản đồ địa chính số 178-2023 do Công ty Đ đo vẽ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C duyệt ngày 20/9/2023 thể hiện phần tranh chấp gồm có khu G diện tích 55,2m²; khu F diện tích 8m² và khu H diện tích 115,3m² thuộc thửa 409 do ông P đứng tên GCNQSDĐ.
[2.2] Xét thấy, họa đồ vị trí và tứ cận của thửa đất 410 thể hiện trên GCNQSDĐ, trích đo bản đồ địa chính ngày 21/7/2016 và mảnh trích đo bản đồ địa chính số 178-2023 là phù hợp nhau. Do đo, ông H xác định ranh giới thửa đất 410 chồng lấn một phần thửa 409 và một phần thửa 461 của ông Trần Văn T là không có cơ sở.
[2.3] Ông P thừa nhận, thời điểm nhận đất ông K không có giao ranh, trên phần đất khu G và khu F có một phần căn nhà ông H được xây dựng từ trước nên ông P không yêu cầu ông H trả lại khu F diện tích 8m² và khu G diện tích 55,2m² nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông P và người đại diện theo ủy quyền của ông H thỏa thuận thống nhất giao phần tranh chấp diện tích 115,3m² có vị trí khu H theo mảnh trích đo bản đồ địa chính số 178-2023 cho ông P sử dụnhg, mỗi bên chịu ½ chi phí tố tụng, ông H tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm. Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9, Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147, 174, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 166, 175 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Công nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Hồng P do ông Trần Thành N làm đại diện theo ủy quyền với ông Trần Trọng H do bà Trần Thị Tú Q làm đại diện theo ủy quyền như sau:
Giao cho ông Nguyễn Hồng P sử dụng diện tích đất 115,3m² thuộc thửa 409, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại xã P, huyện C tỉnh Long An. Vị trí đất khu H theo mảnh trích đo bản đồ địa chính số 178-2023 do Công ty Đ đo vẽ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện C duyệt ngày 20/9/2023.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc định giá, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 đồng ông P và ông H mỗi người chịu ½, ông P đã tạm nộp ông H hoàn lại cho ông P 10.000.000 đồng.
- Về án phí: ông Trần Trọng H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông P 1.000.000 đồng theo biên lai số 0008344, ngày 03/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Giúp |
Bản án số 53/2024/DS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 53/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Hồng P do ông Trần Thành N làm đại diện theo ủy quyền với ông Trần Trọng H do bà Trần Thị Tú Q làm đại diện theo ủy quyền
