|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 08 – 8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh
Ông Nguyễn Tiến Tịnh
Thư ký phiên tòa: ông Lý Khởi Vinh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà:
Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS 28 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình T. Sinh năm: 1991, tại tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Đình K (đã chết) và bà Phùng Thị Thanh T1; Vợ là Trần Thị Thúy K1, sinh năm 1991 và 02 người con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018). Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024. Bị cáo bị tạm giam - có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Trần Thị Thúy K1, sinh năm 1991 – Có mặt.
Địa chỉ: Bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, Nguyễn Đình T điều khiển xe mô tô biển số 47R - 5997 (xe của Nguyễn Đình T và vợ là Trần Thị Thúy K1) đến khu vực thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông gặp một đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma tuý với số tiền 300.000 đồng về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma tuý vào trong túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe ra về. Đến 11giờ cùng ngày, thì bị phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật.
Tại Kết luận giám định số 288/KL-KTHS, ngày 24/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon trong suốt được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,2251gam.
Bản cáo trạng số: 56/CT-VKS (ĐM) ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đăk Mil giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù;
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
+ Tịch thu tiêu huỷ 0,2007 gam ma túy, là Methamphetamine, hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; sim số 0972.736.937 do không còn giá trị sử dụng.
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo A57 màu vàng là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô biển số 47R5-5997 cho chị Trần Thị Thúy K1 là chủ sở hữu hợp pháp.
Bị cáo không bào chữa gì mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
2
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Vào lúc 11 giờ ngày 19/6/2024, tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Đình T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2251 gam ma túy, là Methamphetamine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) ...Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;”
[3] Xét hành vi của bị cáo đã thực hiện xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng đối với bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
3
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp:
Về vật chứng vụ án:
Đối với 0,2007 gam ma túy, là Methamphetamine, hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; sim số 0972.736.937 do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động Oppo A57 màu vàng là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô biển số 47R5-5997 cho chị Trần Thị Thúy K1 (là vợ của Nguyễn Đình T) là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/6/2024.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố Tụng Hình sự:
+ Tịch thu tiêu huỷ 0,2007 gam ma túy, là Methamphetamine, hoàn lại sau giám định; sim số 0972.736.937.
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo A57 màu vàng.
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô biển số 47R5-5997 cho chị Trần Thị Thúy K1.
(Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil).
4
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Hải Âu |
5
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
