|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày 08 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn và bà Huỳnh Thị Thúy Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chúc và ông Phạm Đức A - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Thái Quốc K, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1993 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số B, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Thái Văn N, sinh năm 1964 và bà Diệp Thị Mỹ A1, sinh năm 1964; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1995, có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29 tháng 9 năm 2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo:
- - Ông Trần Phú N1, Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Điện thoại: 0903.631.xxx. (vắng mặt, bị cáo từ chối nhờ luật sư bào chữa cho bị cáo)
- - Ông Võ Hồ Thế P, Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố C; địa chỉ: Số G, đường A, Khu Dân cư D, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. Điện thoại: 0913.101.xxx. (vắng mặt, bị cáo từ chối nhờ luật sư bào chữa cho bị cáo)
-
Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1970 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ E, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn S (chết) và bà Lê Thị D (chết); bị cáo có vợ Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1968, có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08 tháng 01 năm 2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo:
- - Ông Đoàn Thiện Đ, Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số A, đường C, phường G, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại: 0917.916.xxx. (vắng mặt, bị cáo từ chối nhờ luật sư bào chữa cho bị cáo)
- - Ông Trần Phú N1, Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Điện thoại: 0903.631.xxx. (vắng mặt, bị cáo từ chối nhờ luật sư bào chữa cho bị cáo)
- - Ông Võ Hồ Thế P, Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố C; địa chỉ: Số G, đường A, Khu Dân cư D, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. Điện thoại: 0913.101.xxx. (vắng mặt, bị cáo từ chối nhờ luật sư bào chữa cho bị cáo)
- Trần Thanh N2, sinh ngày 29 tháng 12 năm 1970 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ H, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Đảng viên; con ông Trần Văn T2 (chết) và bà Trần Thị T3, sinh năm 1933; bị cáo có vợ Lê Kim P1, sinh năm 1971, có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Năm 1990 đi nghĩa vụ quân sự tại Đại đội 1 biên phòng tỉnh An Giang đến năm 1996 thăng hàm thiếu úy. Năm 2000 xuất ngũ về địa phương sinh sống bằng nghề mua bán; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Trần Tấn P2, sinh ngày 18 tháng 4 năm 1987 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ I, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn D1, sinh năm 1960 và bà Võ Thị N3, sinh năm 1960; bị cáo có vợ Đỗ Thị Kim H1, sinh năm 1989 (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2008, sinh năm 2013; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị H2, có một con chung sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm tạm giam từ ngày 23 tháng 10 năm 2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt).
- Trần Tấn P3, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ 1, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn D1, sinh năm 1960 và bà Võ Thị N3, sinh năm 1960; bị cáo có vợ Thị N4, sinh năm 1977, có 03 con, lớn sinh năm 1998, sinh năm 2000; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1981, có một con chung sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
Bị hại:
- Anh Thái Quốc K, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1993 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số B, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang. (Đối với hành vi do N2 gây ra)
- Anh Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1970 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ E, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Đối với hành vi do N2 gây ra)
- Anh Trần Thanh N2, sinh ngày 29 tháng 12 năm 1970 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ H, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Đối với hành vi do K, T gây ra)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1968
Địa chỉ: Tổ E, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt).
-
Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1995
Số 23/7, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)
Người làm chứng: Gồm các ông (bà) Trần Phước S1, sinh năm 1974; Huỳnh Thị C, sinh năm 1979; Nguyễn Văn N5, sinh năm 1987; Trần Thị M, sinh năm 1963; Trần Thị Kim T4, sinh năm 1967; Lê Kim P1, sinh năm 1970. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 05/3/2022 xuất phát từ mâu thuẫn trước đó giữa Thái Quốc K và Trần Phước S2, Trần Tấn P3. K về nhà nói cho Nguyễn Thị H (vợ K), Nguyễn Ngọc T (cha vợ K), Nguyễn Thị Kim K1 (mẹ vợ K) biết sự việc. Sau đó K chở H, T chở T4 đến quán cafe của ông Trần Thanh N2 để tìm S2, P3 để nói chuyện.
Đến nơi khi K nói chuyện với P3 thì P3 dùng hai tay đấm vào mặt K, K dùng hai tay đấm trả vào mặt P3. Trong đó tay trái của K có đeo nhẫn gắn hột đá nên gây nên thương tích vùng trán của P3 tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%, P3 không yêu cầu xử lý hình sự đối với K. Thấy P3 bị đánh N2 là chú ruột chạy đến đánh K thì bị K dùng hai tay, trong đó tay trái đeo nhẫn gắn hột đá đấm vào mặt gây thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 11%. Bực tức do bị đánh N2 đi tìm thanh 01 tuýp kim loại dài 60 cm đánh vào đầu K 02 cái gây thương tích vùng đỉnh trái và thái dương trái tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%, đánh vào đầu T trúng nón bảo hiểm, đánh vào bụng nhưng không gây thương tích; đánh vào tay trái của T gây nên thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%. Trong lúc can ngăn, Trần Tấn D2 là hàng xóm ôm Nhành từ phía sau, N2 vùng vẫy nên bị tay của D2 trượt lên siết trúng cổ gây nên thương tích 16%.
Trong lúc D2 ôm ông N2, T nhặt cục gạch ống kích thước (20x10x10) cm đánh vào đầu N2 gây thương tích 16%. Nghe sự việc P3 và N2 bị đánh Trần Tấn P2 (em ruột P3) cách đó khoảng 30m lấy con dao chặt thịt dài khoảng 30 cm chạy đến rượt đuổi chém K, K té ngã P3 dùng dao chém nhưng K dùng thùng nhựa đỡ nên không trúng. Lúc này, có người truy hô mẹ P2 bất tỉnh nên P2 không tiếp tục chém mà chạy đến đưa mẹ về nhà.
K có hành vi đánh P3 gây thương tích nhưng P3 không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với K. K có hành vi gây thương tích cho ông N2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 11%. T có hành vi gây thương tích cho ông N2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 16%. Thái Q, Nguyễn Ngọc T đã thực hiện hành vi dùng nhẫn, gạch ống là hung khí nguy hiểm đánh Trần Thanh N2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 25%” (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư số 22).
Nhành có hành vi gây thương tích cho K 3%, T với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể N2 gây ra cho K, T là 4%. K, T có yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với N2.
Quá trình điều tra, vật chứng thu giữ gồm: 01 cục gạch ống, 01 ống tuýp kim loại dài 60cm do Công an xã M thu giữ; 01 nón bảo hiểm do Nguyễn Ngọc T giao nộp; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có gắn hột đá màu trắng do Thái Quốc K giao nộp.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 168/22/TgT ngày 05 tháng 4 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Thái Q xác định: Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo trán – đính trái, kích thước (3,5 x 0,4)cm, bờ không thẳng, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02%; Sẹo thái dương trái, kích thước (2,2 x 0,3)cm, bờ không thẳng. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên: 03%. Kết luận khác: Các thương tích trên do vật tày gây nên.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 258/22/TgT ngày 13 tháng 5 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Ngọc T xác định: Dấu hiệu chính qua giám định: Đụng dập mặt sau khủy tay tái, để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (01 x 0,3)cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 01%. Vùng bụng không thương tích tồn tại. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thẻ do tất cả thương tích gây nên: 01%. Kết luận khác: Các thương tích trên do vật tày gây nên.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 241/22/TgT ngày 05 tháng 5 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Trần Thanh N2 xác định: Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo thái dương trái, bờ không sắc, kích thước (1,2 x 0,1) cm, gần tiệp màu da lành. Nứt sọ thái dương trái, xuất huyết dưới nhện thái dương trái, đã điều trị ổn: tỷ lệ 16%. Thương tích do vật tày có cạnh gây nên. Sẹo má trái hình chữ X bờ không sắc, kích thước (1,5 x 0,1)cm, gãy hàm gò má trái, điều trị bảo tồn: Tỷ lệ 11%. Thương tích do vật tày gây nên. Chấn thương thanh quản kín, di chứng khó nói mức độ nhẹ: tỷ lệ là 16%. Thương tích do vật tày gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 37% . (Riêng tổng vết thương thái dương trái + má trái hình chữ X là 25% (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư số 22).
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 885/23/KLTTCT-TTPY ngày 30 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Trần Tấn P3 xác định: Các kết quả chính: Sẹo vùng trán trái nằm ngang, ngoài chân tóc kích thước (01x0,2)cm hơi lõm, sậm màu, bờ không sắc. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 03%. Kết luận khác: Thương tích trên do vật tày có cạnh gây nên. Chiếc nhẫn mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L thu giữ có khả năng gây nên thương tích trên.
P3, P2 không có hành vi gây nên thương tích nên Viện kiểm sát không truy tố về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng Trần Tấn P3 đã thực hiện hành vi dùng tay đánh Thái Quốc K; Trần Tấn P2 thực hiện hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đuổi chém Thái Q gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Đối với T4, H ôm P3 chỉ nhằm mục đích can ngăn và không gây thương tích cho ai. Trần Văn D3 khi can ngăn đã gây chấn thương thanh quản kín, di chứng khó nói mức độ nhẹ cho Trần Thanh N2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 16% nhưng do vô ý, D3 không thống nhất ý chí với K, T trong việc gây thương tích cho N2 nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự Dinh về tội cố ý gây thương tích với vai trò đồng phạm.
Bị cáo N2 nộp 5.000.000 đồng bồi thường thiệt hại cho bị cáo K, T. Bị cáo K, T tác động vợ bị cáo K nộp 7.000.000 đồng bồi thường cho bị cáo N2. Bị cáo N2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K, T. Bị cáo K, T rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo N2.
Tại cáo trạng số 35/CT-VKSLX-HS ngày 07/02/2014 và Đính chính số 04/VKSLX-HS ngày 17/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố các bị cáo Thái Quốc K, Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134; Trần Thanh N2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trần Tấn P3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318; Trần Tấn P2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đính chính số 04. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo: Thái từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm; K từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm .
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 282 BLTTHS đình chỉ vụ án đối với bị cáo Trần Thanh N2.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Trần Tấn P2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Trần Tấn P3 từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.
- - Áp dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có gắn hột đá màu trắng; Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm, 01 cục gạch ống, 01 ống tuýp kim loại dài 60cm.
- - Áp dụng: Điều 590 Bộ luật dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường của các bị cáo. Bị cáo K, T có trách nhiệm bồi thường cho bị cáo N2 7.000.000 đồng. Bị cáo N2 có trách nhiệm bồi thường cho bị cáo K 5.000.000 đồng.
Các bị cáo T, K, N2, P3, P2 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo K, T và người liên quan H xác định các hành vi khiếu nại, tố cáo trước đây do nhận thức sai, nay không khiếu nại hay tố cáo gì khác. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- - Tại phiên tòa bị cáo K, T thừa nhận hành vi phạm tội không kêu oan như trong quá trình điều tra, truy tố và rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo N2, bị cáo N2 xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo K. Bị cáo N2 bị khởi tố theo khoản 1 Điều 134 theo yêu cầu của T, K nên khi người yêu cầu rút sẽ được xem xét đình chỉ theo quy định tại Điều 155, Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tại phiên tòa, bị cáo K từ chối nhờ luật sư N1, P bào chữa cho bị cáo; bị cáo T từ chối luật sư N1, P, Đ bào chữa cho bị cáo. Bị cáo trình bày do đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên từ chối luật sư bào chữa cho các bị cáo, đây là quyền của các bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận việc các bị cáo từ chối luật sư bào chữa, các bị cáo tự bào chữa cho các bị cáo
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là H (vợ bị K) và T4 (vợ bị cáo T) là những ngừoi chứng kiến sự việc đánh nhau, phù hợp với lời khai cũng những người làm chứng. Phù hợp hung khí đã được thu giữ là nhẫn của bị cáo K gây thương tích cho ông N2, cục gạch ống là hung khí T gây thương tích cho ông N2, ông tuýp kim loại bị cáo N2 gây thương tích cho K, T. Phù hợp kết luận giám định pháp y về các thương tích đã được trưng cầu giám định, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 19h ngày 05 tháng 3 năm 2022, xuất phát từ mâu thuẫn bị cáo P3 dùng tay đánh vào mặt bị cáo K, K dùng hai tay trong đó có tay trái đeo nhẫn đính đá đánh vào mặt P3 gây chảy máu với thương tích 3%, sau đó được H, T4 ôm lại can ngăn. Nhành thấy P3 bị đánh chảy máu nên đã dùng tuýp kim loại dài 60cm đánh K vào vùng trán – đỉnh trái gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%, đánh T gây thương tích dập mặt sau khủy tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Bị cáo K, T rút lại yêu cầu khởi tố nên được xem xét đình chỉ như phân tích nêu trên. Bị cáo K dùng tay đeo nhẫn đánh vào vùng má trái ông N2 gây gãy hàm gò má trái với tỷ lệ tổn thương 11%, bị cáo T dùng cục gạch đánh vào vùng thái dương trái ông N2 gây nứt sọ thái dương trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể 16% (tỷ lệ tổn thương cơ thể của thương tích gây là 25%” (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư số 22). Bị cáo P3 có hành vi đánh K, bị cáo P2 khi hay P3, N2 bị đánh đã dùng dao rượt chém bị cáo K, bị cáo K đã dùng thùng nhựa đỡ nên bị P2 bỏ về mà không tiếp tục chém. Bị cáo K sử dụng nhẫn, bị cáo T sử dụng gạch đây là các hung khi nguy hiểm gây thương tích cho N2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 25% nên phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt.
Hành vi nêu trên của các bị cáo K, T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm (Tội phạm nghiêm trọng)
Hành vi nêu trên của bị cáo P2 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù (tội phạm nghiêm trọng). Hành vi nêu trên của bị cáo P3 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo K, T, N2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người, đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo P2, P3 cũng là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt bình thường của cộng đồng dân cư, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo N2 gây thương tích cho K, T. K, T gây thương tích cho N2 trong khi chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt giữa hàng xóm với nhau. Bị cáo P3, P2 khi thấy bị cáo N2 bị đánh cũng đã thực hiện hành vi bên vực mặc dù không gây ra thương tích nhưng đã gây rối trật tự công cộng tại khu dân cư đang sinh sống. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, động cơ mục đích nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa cá nhân với nhau.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo K, T, N2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo N2 đã bồi thường cho bị cáo K, T số tiền 5.000.000 đồng; bị cáo T, K đã tác động H bồi thường cho N2 số tiền 7.000.000 đồng, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo N2 có thời gian phục vụ trong quân đội, các bị cáo K, T được N2 xin giảm nhẹ hình phạt đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo P3, P2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo P3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo P2 có hoàn cảnh gia đình khó khăn phải trực tiếp nuôi mẹ già và con nhỏ đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt nhận thấy: Các bị cáo là hàng xóm, láng giềng với nhau nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt đã thiếu kiềm chế, kiểm soát nên gây thương tích cho nhau và gây rối trật tự công cộng. Tại phiên tòa, các bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái và xin lỗi lẫn nhau về việc làm của mình. Bị cáo K, T rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo N2, bị cáo N2 xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo K, T. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, xét thấy không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù nên đề nghị của của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo K, T và N2 thỏa thuận K, T bồi thường cho N2 7.000.000 đồng, N2 bồi thường cho bị cáo K 5.000.000 đồng, các số tiền trên đã được các bị cáo tự nguyện nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự thành phố L, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án. Thỏa thuận này phù hợp quy định tại Điều 585, 590 Bộ luật dân sự nên được xem xét chấp nhận.
[6] Về vật chứng: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có gắn hột đá màu trắng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 nón bảo hiểm, 01 cục gạch ống, 01 ống tuýp kim loại dài 60cm là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo K, T, P2, P3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo N2 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo K, T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm do đã rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo N2.
Các bị cáo N2, K và T đã tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa nên không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Thái Quốc K, Nguyễn Ngọc T, Trần Thanh N2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Tuyên bố bị cáo Trần Tấn P2, Trần Tấn P3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ Điều 155, Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự. Đình chỉ vụ án đối với bị cáo Trần Thanh N2, bị người yêu cầu khởi tố là Nguyễn Ngọc T, Thái Quốc K do đã rút yêu cầu khởi tố.
-
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (08/5/2024). Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T cho cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
-
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Thái Quốc K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (08/5/2024). Giao bị cáo Thái Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Tấn P2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (08/5/2024). Giao bị cáo Trần Tấn P2 cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
-
Căn cứ khoản 1 Điều 318; i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Tấn P3 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án (08/5/2024). Giao bị cáo Trần Tấn P3 cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, 590 Bộ luật dân sự: Công nhận thỏa thuận của bị cáo K, T, N2 tại phiên tòa. Bị cáo N2 có trách nhiệm bồi thường cho bị K số tiền 5.000.000 đồng (theo biên lai thu số 0001200 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên). Bị cáo K, T có trách nhiệm bồi thường cho bị cáo N2 số tiền 7.0000.000 đồng (theo biên lai thu số 0001210 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có gắn hột đá màu trắng; Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm, 01 cục gạch ống, 01 ống tuýp kim loại dài 60cm (Đặc điểm tang vật như Quyết định chuyển vật chứng ngày 07/02/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo K, T, P2, P3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo K, T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) do đã rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo N2.
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Quốc Việt |
Bản án số 53/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 53/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ vụ án đối với bị cáo Trần Thanh Nhành, bị người yêu cầu khởi tố là Nguyễn Ngọc Thái, Thái Quốc Khánh do đã rút yêu cầu khởi tố Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Thái 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (08/5/2024). Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Thái cho cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
