Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07 tháng 6 năm 2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hà
  2. Bà Nguyễn Thị Thêu

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Chương - thư ký Toà án nhân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện VKSND tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hải B - Kiểm sát viên.

Ngày 07/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐSXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 29/2024/QĐ-ST ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Đỗ Thị H, sinh năm 1989
  2. Địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

  3. Bị đơn: anh Nguyễn Cao T, sinh năm 1985
  4. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

    Hiện đang lao động tại Đài Loan

  5. Người làm chứng: bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1945
  6. Địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

( chị H có đơn xét xử vắng mặt; anh T và bà H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày: chị và anh T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 17/10/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng trong cách sống, sau đó anh, chị sang Đài Loan để lao động nhưng hai bên không gặp, cũng không liên lạc với nhau. Từ cuối năm 2023 chị về nước, anh T ở lại Đài Loan, địa chỉ cụ thể của anh T chị không biết. Chị không còn tình cảm với anh T, vợ chồng không trở về đoàn tụ được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: chị và anh T có một con chung tên Nguyễn Cao P, sinh ngày 22/6/2012. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Con Nguyễn Cao P có nguyện vọng được ở với chị H.

Về tài sản và nợ chung: không có. Chị đề nghị xét xử vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ anh Nguyễn Cao T trình bày: sau khi kết hôn anh T và chị H chung sống cùng vợ chồng bà, sau đó cả hai đi lao động tại Đài Loan, anh T thường xuyên liên lạc với gia đình nên bà được biết trong thời gian ở nước ngoài anh T và chị H phát sinh mâu thuẫn, không ở cùng nhau, cuối năm 2023 chị H về nước và nói chuyện với gia đình về việc xin ly hôn anh T. Sau khi nhận được các văn bản của Toà án, gia đình bà đã thông báo lại nội dung cho anh T biết, anh T nhất trí với các yêu cầu khởi kiện của chị H.

Công văn số 214/PA08 ngày 26/3/2024 của Phòng Q- Công an tỉnh T cung cấp: anh Nguyễn Cao T xuất cảnh lần gần nhất ngày 26/10/2015, bằng hộ chiếu số B830677 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N. Sau đó không thấy thông tin nhập cảnh.

Kết quả xác minh tại UBND xã Đ, huyện Đ thể hiện: do anh chị không chung sống tại địa phương nên về thời điểm, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn địa phương không nắm được. Từ cuối năm 2023 chị H đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm:

Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: đề nghị áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Cao T. Giao con chung Nguyễn Cao P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung không giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

  1. Chị Đỗ Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Cao T hiện đang cư trú tại nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Chị Đỗ Thị H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Cao T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn nên hai bên không còn quan tâm, liên lạc với nhau, qua lời khai của chị H và bà H1 ( mẹ anh T) cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, xử cho chị H được ly hôn anh T.
  2. Về quan hệ con chung: do hiện nay anh T đang ở nước ngoài chưa có điều kiện trực tiếp chăm sóc con chung Nguyễn Cao P, do vậy cần giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là đúng với quy đinh tại các điều 80,81,82 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: chị H khai không có, Toà án không ghi được ý kiến của anh T, vì vậy không giải quyết trong vụ án này.
  4. Về án phí: chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Cao T.
  2. Về quan hệ con chung: giao con chung Nguyễn Cao P, sinh ngày 22/6/2012 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T góp tiền cấp dưỡng nuôi con, anh T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Chị H và anh T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản và nợ chung: không giải quyết trong vụ án này.
  4. Về án phí: chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00000128 ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị H đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Đông Vinh;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 53/2024/ HNGĐ-ST ngày 07/6/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger