TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HS-PT Ngày: 06-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Huỳnh Đắc Đương
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
- Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến Tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Minh T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 73/2024/HSPT, ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Mã Văn T1, do có kháng cáo của bị cáo Mã Văn T1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HSST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo có kháng cáo: Mã Văn T1, sinh ngày 14/11/2000 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mã Văn T2, sinh năm 1967 và bà Thạch Thị H, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/3/2024 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Mã Văn T1: Luật sư Nguyễn Thị Ngọc M – Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T. (có mặt)
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập ra phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nghe cha ruột của mình là ông Mã Văn T2 kể lại việc ông Thạch Hòa B, sinh năm 1976, ngụ ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh (ông B chồng của dì ruột T1) đang làm thợ xây nhà cho T1 nhưng tự ý nghỉ làm và lấy dụng cụ xây hồ bỏ đi về nhà. Nên T1 bực tức và lấy xe mô tô loại Suzuki Satria của T1 chạy đến nhà ông B để nói chuyện.
Khi T1 đến nhà ông B thì gặp bà Thạch Thị B1, sinh năm 1977 (bà B1 là dì ruột của T1). T1 hỏi ông B đang ở đâu, bà B1 chỉ ra phía nhà sau nên T1 đi ra sau nhà để gặp ông B nói chuyện. Khi T1 ra đến nhà sau gặp ông B đang đổ nước vào chiếc xuồng để ngâm lúa giống. Lúc này T1 đi đến gần chỗ ông B và nói “Dượng út, từ đây về sau con với dượng út không có dượng cháu gì nữa hết”. Nghe vậy, ông B đứng lên và lùi ra sau cách T1 khoảng 01 mét, chỉ tay vào mặt T1 và nói “mày nói chuyện đàng hoàng lại”, lúc này T1 thấy ông B đang nắm bàn tay lại thành hình nắm đấm, T1 cho rằng ông B cầm nắm tay lại để đánh T1 nên T1 đã dùng tay phải đang cầm chìa khoá xe đánh một cái theo hướng từ trên xuống dưới (hướng hơi xuyên về bên trái) trúng vào vùng thái dương bên trái của ông B và vết thương bị trượt, kéo dài xuống vùng má trái làm rách da, chảy máu. Liền lúc này ông B đưa tay lên bếp lấy cây dao để chém trả lại thì T1 xông vào quật tay ông B xuống làm rớt cây dao. Bà Thạch Thị Bích N thấy, bước đến can ngăn và ôm Mã Văn T1 lại, ông B thấy vậy cũng xông vào dùng tay nắm đấm đánh nhiều cái trúng vào vùng đầu, mặt và vùng vai của T1 bị sưng phù nề nhưng không để lại thương tích gì. Lúc này được mọi người chạy đến can ngăn nên T1 bỏ ra về còn ông B được người thân đưa đi điều trị vết thương tại Trung tâm y tế huyện T và chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T để điều trị. Đến ngày 17 tháng 01 năm 2024 ông Thạch Hòa B làm đơn tố giác đến Cơ quan Công an về hành vi của Mã Văn T1 đã gây thương tích cho ông.
Ngày 20/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, quyết định trưng cầu giám định pháp y về thương tích trên người của Thạch Hòa B.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích của trung tâm P số: 61/2024/KLTTCT-TTPY ngày 08/3/2024 kết luận: Lõm sọ thái dương trái. Tỷ lệ: 8% (tám phần trăm).
- Dập não thái dương trái đã điều trị. Tỷ lệ: 5% (năm phần trăm).
- Sẹo trung bình vùng thái dương trái kéo dài xuống má trái. Tỷ lệ: 6% (sáu phần trăm).
Căn cứ thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần, tỷ lệ do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Thạch Hòa B là 18% (Mười tám phần trăm) theo nguyên tắc cộng tại thông tư.
Cơ chế hình thành vết thương trên người của nạn nhân Thạch Hòa B là: Do ngoại lực tác động trực tiếp; Vật gây ra thương tích trên là: vật cứng có cạnh; H1 từ trên xuống.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HSST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã quyết định.
Tuyên bố bị cáo Mã Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mã Văn T1 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/8/2024 bị cáo Mã Văn T1 kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Mã Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử Mã Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội đúng quy định pháp luật, mức hình phạt mà bản án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo 02 năm tù là đã đánh giá đúng tính chất vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc hôm nay bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Quan điểm người bào chữa cho bị cáo Mã Văn T1 trình bày: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Sau khi phạm tội bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trình độ văn hóa thấp nên am hiểu pháp luật có phần hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, mặc dù bị cáo chưa đăng ký kết hôn nhưng trên thực tế bị cáo chung sống với người phụ nữ đã có hai người con, con lớn bị cáo 9 tháng tuổi và đang mang thai, bị cáo là lao động chính trong gia đình, trong sự việc này bị hại cũng có phần lỗi trong việc lời qua tiếng lại với bị cáo dẫn đến bị cáo gây thương tích cho bị hại, đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
Lời sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Mã Văn T1, Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai tại phiên tòa phúc thẩm của bị cáo Mã Văn T1 phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Chính bị cáo là người trực tiếp dùng tay phải cầm chìa khóa xe đánh một cái theo hướng từ trên xuống dưới vào vùng thái dương bên trái của bị hại Thạch Hòa B. Hậu quả làm cho bị hại Thạch Hòa B bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%. Do đó án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã đánh giá, khách quan tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt để xét xử bị cáo 02 (năm) tù là đã đáp ứng tính hình chính trị tại địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo cũng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới theo quy định khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà chỉ củng cố thêm tình tiết hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo chung sống với người phụ nữ như vợ như chồng đang làm thủ tục đăng ký kết hôn, con lớn bị cáo 09 tháng tuổi và vợ đang mang thai, tuy nhiên những tình tiết này thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo và cải tạo giam giữ của bị cáo Mã Văn T1, giữ nguyên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
[4] Đề nghị của Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, phù hợp quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo trong quá trình nghị án Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét, tuy nhiên hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, dùng hung khí nguy hiểm đây là tình tiết định khung, cũng như tình hình an ninh trật tự tại địa phương, thương tích bị cáo gây ra cho bị hại hết sức nguy hiểm, do đó xử bị cáo ở khung hình phạt khởi điểm là đã xem xét cho bị cáo. Do đó quan điểm của người bào chữa không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Mã Văn T1 không được chấp nhận bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Mã Văn T1.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HSST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố: Bị cáo Mã Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mã Văn T1 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Mã Văn T1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |
Bản án số 53/2024/HS-PT ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về hình sự phúc thẩm (tội cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 53/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thuong tích
