TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-12-2024 “V/v tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Viết Ngoan.
- Ông Tăng Tài Thủ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Kiều Thị T, sinh năm 1982 - Xin vắng mặt
Nơi Thường trú: Khu vực TP, phường TH, quận N, thành phố C.
Nơi ở hiện nay: Ấp TL, xã TT, huyện TH, tỉnh KG.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1979 – Vắng mặt
Nơi Thường trú: Khu vực Tân Phú, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 19/8/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Kiều Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Qua tìm hiểu bà và ông Nguyễn Thế T tiến đến hôn nhân vào năm 2004 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt ngày 15/10/2010. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cự cãi, nhưng cả hai không khắc phục được. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn hòa hợp, đời sống chung không thể kéo dài nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Nguyễn Anh Ki (giới tính: nữ), sinh ngày 27/4/2005 và Nguyễn Ngọc H (giới tính: nữ), sinh ngày 08/12/2012. Hiện nay cháu Ngọc H đang sống với ông T do vậy khi ly hôn bà đồng ý giao quyền nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc H cho ông T, bà không cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Anh K hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung bà xác định không có nên không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, bà yêu cầu được xét xử vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập ông Nguyễn Thế T tham gia tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông T đều vắng mặt và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Về hôn nhân chấp nhận cho bà Kiều Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Thế T. Về con chung: giao con chung Nguyễn Ngọc Hân cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung - Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Kiều Thị T yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Thế T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Xét bà Kiều Thị T và ông Nguyễn Thế T tiến tới hôn nhân vào năm 2004 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy
định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn, bà T cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, Thường xuyên cự cãi nhưng vợ chồng không khắc phục được, bà không thể tiếp tục chung sống với ông T nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn, riêng ông T dù đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu ly hôn của bà T nhưng ông không có ý kiến. Từ đó, cho thấy mong muốn ly hôn của bà T là có nhưng ông T không có ý kiến và không có biện pháp gì hàn gắn gia đình. Xét vợ chồng có nghĩa vụ yêu Thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng nay bà T xác định hạnh phúc gia đình không có, không thể tiếp tục chung sống với ông T, ông T lại không đưa ra biện pháp hàn gắn gia đình cho thấy hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Kiều Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Thế T.
- [3] Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Nguyễn Anh K (giới tính: nữ), sinh ngày 27/4/2005 và Nguyễn Ngọc H (giới tính: nữ), sinh ngày 08/12/2012. Hiện nay con chung Nguyễn Ngọc H do ông T nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà T đồng ý giao con cho ông T tiếp tục nuôi con, bà không cấp dưỡng nuôi con; về phía ông T từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay ông không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án cũng như không có bất cứ văn bản ghi ý kiến nào về các yêu cầu của nguyên đơn. Xét hiện nay con do ông T nuôi dưỡng, mặc khác qua xác minh ở địa phương không xảy ra vụ việc về bạo lực gia đình. Do vậy, nếu thay đổi người nuôi con có thể ảnh hưởng đến tâm lý của con nên Hội đồng xét xử xét thấy giao con cho ông T tiếp tục nuôi con là phù hợp. Ngoài ra, xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên người được quyền yêu cầu cấp dưỡng không có văn bản yêu cầu bà T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định nên Hội đồng xét xử không buộc bà T phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Riêng con chung Nguyễn Anh K, bà T xác định con đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- [4] Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
- [5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Kiều Thị T phải chịu theo quy định pháp luật.
- [6] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 238, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
* Tuyên án:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Kiều Thị T và ông Nguyễn Thế T.
- Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Nguyễn Anh K (giới tính: nữ), sinh ngày 27/4/2005 và Nguyễn Ngọc H (giới tính: nữ), sinh ngày 08/12/2012. Giao con chung Nguyễn Ngọc H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho bà T không ai được quyền ngăn cản. Ông T, bà T có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong cùng vụ án, khi đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Kiều Thị T phải chịu tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0005602 ngày 10/10/2024 được chuyển thành án phí.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Kim Hưng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nguyễn Viết Ngoan | Tăng Tài Thủ | Hoàng Thị Kim Hưng |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐST–HNGĐ ngày 26/11/2024 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Kiều Thị T, sinh năm 1982 - Xin vắng mặt Nơi Thường trú: Khu vực TP, phường TH, quận N, thành phố C. Nơi ở hiện nay: Ấp TL, xã TT, huyện TH, tỉnh KG. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1979 – Vắng mặt Nơi Thường trú: Khu vực Tân Phú, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
